Ðặt tên ‘Thăng Long’: Ðòn tuyên truyền chính trị của Lý Thái Tổ? (phần 2)

Cổng chùa Cổ Pháp, nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời bé, nay thuộc làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. (Hình: BinhGiang/Wikimedia/Public Domain)

Vũ Quí Hạo Nhiên
Bài đăng báo Người Việt, Xuân 2010
Tiếp từ phần 1

Hoa Lư không phải gốc quyền lực của nhà Lý

Hoa Lư là kinh đô nhà Ðinh. Vua Ðinh Tiên Hoàng chọn nơi đó làm kinh đô vì đó là quê của ông. Chúng ta nghe chuyện vua Ðinh thời nhỏ tụ tập trẻ chăn trâu lấy cờ lau tập trận, tất cả những chuyện đó diễn ra ở Hoa Lư. Vì vậy, sau khi dẹp tan nạn Thập nhị Sứ quân, Ðinh Tiên Hoàng về lại quê cũ đóng đô.

Lê Hoàn, khi chiếm ngôi vua của nhà Ðinh, không dời đô mà đóng luôn tại đó, chắc chắn một phần là vì Hoa Lư đã xây dựng đâu ra đấy rồi, phần khác chắn hẳn là vì Hoa Lư cũng không xa xôi gì quê Lê Hoàn.

Sử có viết khác nhau về quê quán Lê Hoàn, nhưng tất cả đều loanh quanh gần Hoa Lư. Ðại Việt Sử Ký Toàn ThưLịch Triều Hiến Chương Loại Chí cho rằng Lê Hoàn là người Ái Châu, tức Thanh Hóa ngày nay, ngay phía nam Hoa Lư. Khâm Ðịnh Việt SửViệt Sử Tiêu Án thì ghi: “Lê Hoàn quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm” – thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay. Hà Nam nằm ngay phía bắc Hoa Lư.

Nhà Lý thì khác, quê ở xa. Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, Bắc Giang, nay thuộc làng Ðình Bảng tỉnh Bắc Ninh. Ðồng minh của Lý Công Uẩn là giới sư sãi Phật Giáo. Ông lúc trẻ tu tập trong chùa Lục Tổ, còn gọi là chùa Cổ Pháp, và qua đó kết thân với Sư Vạn Hạnh.

Sư Vạn Hạnh là một nhân vật rất quan trọng. Cũng xuất phát từ chùa Lục Tổ như Lý Công Uẩn, Sư Vạn Hạnh được xem như một vị Phật sống của thời đó. Vua Lê Ðại Hành tôn ngài làm Quốc Sư. Nhưng ngài lại thân với Lý Công Uẩn. Nhân có cây bông gạo bị sét đánh, Sư Vạn Hạnh đọc vết cháy thành một bài văn, diễn giải thành việc Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi, và xúi giục Lý Công Uẩn lên làm vua.

Việc đó chứng tỏ đạo Phật đối với Lý Công Uẩn không chỉ là tín ngưỡng, mà giới sư tăng còn là nguồn hậu thuẫn nữa, nhất là sư tăng của thiền phái Lục Tổ Thiền Ông, mà chùa tổ tọa lạc tại Cổ Pháp tức Bắc Ninh. Ðiều này cũng giải thích được vì sao Lý Thái Tổ hỗ trợ cho đạo Phật rất nhiều. Mới dời đô, chưa kịp xây kinh thành, vua đã “phát tiền kho 2 vạn quan” thuê thơ xây 8 chùa ở Cổ Pháp. Vì lòng thành tín một phần, nhưng chắc chắn phần nữa là để gia tăng thế lực của phe mình.

Sân rồng trong đền vua Đinh ở Hoa Lư. (Hình: Kien1980v/Wikimedia/Public Domain)

Nếu ở Cổ Pháp có thành trì kiên cố, Lý Thái Tổ chắc đã dời đô về đó quách. Nhưng, ở Cổ Pháp chỉ có ruộng và chùa, nên Lý Thái Tổ phải tìm địa điểm khác, và ông chọn thành Ðại La.

Hãy tìm một tấm bản đồ miền Bắc Việt Nam và xem vị trí những nơi này. Hoa Lư nằm cách Hà Nội 100km về hướng nam. Huyện Thanh Liêm, nơi hầu hết sử gia đồng ý là quê Lê Ðại Hành, nằm cách Hoa Lư 30km về hướng bắc, ngay trên đường thẳng đi Hà Nội.

Làng Cổ Pháp, nguồn hậu thuẫn của Lý Thái Tổ, lại nằm cách Hoa Lư rất xa, cách thành Ðại La 15km về hướng đông bắc.

Nếu ở lại Hoa Lư, Lý Thái Tổ sẽ phải sống ngay ở chỗ có hậu duệ nhà Ðinh, và muốn qua lại với quê mình là Cổ Pháp thì phải băng qua quê của nhà Lê. Hoa Lư, do đó, là một chỗ không an toàn cho ngai vua.

Ðại La thì ngược lại. Ðại La nằm ngay gần Cổ Pháp, chỉ qua sông là gần tới. Nếu có nguồn chống đối nào tới từ Hoa Lư, hay Thanh Liêm, hay Châu Ái, Lý Thái Tổ có thể dựa lưng vào quê mình, quay mặt xuống phía nam mà đấu với toàn bộ các thế lực đó.

Ðể giữ quyền lực trong tay mình, việc dời đô tới Ðại La là vô cùng đắc sách. Ðó mới là lý do Lý Thái Tổ dời đô. Tất cả những lời hoa mỹ khác để giải thích việc này, chỉ là cái cớ biện minh.

Thế yếu của Công Uẩn khi lên ngôi

Tới đây, có thể có ý kiến ngược lại như sau: Ðành rằng dời đô về Ðại La có thể tăng uy quyền Lý Thái Tổ, nhưng Lý Thái Tổ có thế rất mạnh, không cần dời đô cũng có đủ uy quyền. Chẳng phải Lý Thái Tổ được sự ủng hộ của triều thần vốn chán ghét Lê Ngọa Triều hay sao?

Ðiều đó có, nhưng chưa phải hoàn toàn như vậy. Giả dụ như con vua Lê Ngọa Triều có thể phải bị mất ngôi vì tội của cha, thì chưa chắc phần đã phải về Lý Công Uẩn. Ðất đai là của chung nhà Lê, ai lấy mà chẳng được. Tôn tộc nhà Lê còn nhiều, chưa tới phiên Lý Công Uẩn được hưởng một mình dễ dàng như vậy.

Hãy xem lại lúc Công Uẩn lên ngôi. Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược viết ngắn gọn như sau: “Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm, ở trong triều có bọn Ðào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh mưu tôn Lý Công Uẩn lên làm vua.”

Khi đi vào chi tiết, các sách sử khác cho thấy, mặc dù Lý Công Uẩn được sự ủng hộ của nhiều người, chính Công Uẩn là người lo ngại rằng chưa hẳn sự ủng hộ là tuyệt đối.

Sách Toàn Thư chép, khi vua Ngọa Triều băng hà, Ðào Cam Mộc biết Lý Công Uẩn có ý muốn tiếm ngôi, bèn lấy lời nói khích, “Sao Thân vệ không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa xem dấu cũ của Thang Vũ, gần xem việc làm của Ðinh, Lê, trên thuận lòng trời, dưới theo ý dân.”

Tượng vua Lê Long Đĩnh trong đền thờ vua Lê Đại Hành tại Hoa Lư, Ninh Binh. (Hình: Kien1980v/Wikimedia/Public Domain)

Công Uẩn thoái thác, và còn nói, “Chỉ sợ lời nói tiết lộ thì chết ráo.”

Công Uẩn khi đó quyền uy nhất triều đình, mà vẫn còn sợ bị “chết ráo,” chứng tỏ ông ngại rằng vua mới, hay nói chung là triều đại nhà Lê, vẫn có sự ủng hộ trong giới có thế lực.

Tôn thất nhà Lê

Sách Toàn Thư viết về các con vua Lê Ðại Hành, ghi những vị được phong vương, cho đóng quân ở chỗ này chỗ nọ. Theo thứ tự từ lớn tới nhỏ, các con vua Ðại Hành gồm:

1. Thái tử Thau làm Kình Thiên Ðại Vương; 2. Ngân Tích làm Ðông Thành Vương; 3. Việt làm Nam Phong Vương; 4. Ðinh làm Ngự Man Vương; 5. Ðĩnh làm Khai Minh Vương (vua Ngọa Triều sau này); 6. Cân làm Ngự Bắc Vương; 7. Tung làm Ðịnh Phiên Vương; 8. Tương làm Phó Vương; 9. Kính làm Trung Quốc Vương; 10. Mang làm Nam Quốc Vương; 11. Ðề (tức Minh Ðề) làm Hành Quân Vương. Ngoài ra, còn có con nuôi không rõ tên, làm Phù Ðái Vương.

Danh sách trong Toàn Thư cho thấy vua Ðại Hành không phong cho ông con nào đóng quân ở thành Ðại La cả, cho thấy thành Ðại La không có ý nghĩa quân sự lớn lao như Lý Công Uẩn sau này phao tin.

Vậy, vua Lê Ngọa Triều có 10 ông anh em, ông nào cũng có đủ tư cách để lên ngôi, nếu con vua Ngọa Triều không có đủ người ủng hộ, thì 10 ông anh em vua đều có đủ tư cách để lên ngôi, chưa tới phần Lý Công Uẩn.

Tất nhiên, trừ những ông không còn sống. Theo Toàn Thư, khi Ðại Hành Hoàng Ðế băng, thái tử Thau đã chết (hết ông số 1), Lê Long Việt “cùng hai vương Ðông Thành, Trung Quốc và em cùng mẹ là Khai Minh Vương tranh nhau lên ngôi, giằng co 8 tháng, trong nước không có chủ.” Ðông Thành Vương thua rồi bị chết. Thế là hết ông số 2.

Lê Long Việt lên ngôi được mấy ngày, Long Ðĩnh làm phản, bị bắt, được tha, rồi Long Ðĩnh làm phản nữa, giết Long Việt. Xong đời ông số 3. Sau này, Lê Long Ðĩnh đánh dẹp giết luôn ông số 9.

Một sách khác, dùng sử liệu của Tàu, viết thêm về hoàng tử Lê Minh Ðề. Theo An Nam Chí Lược, vào cuối triều Lê Ðại Hành, nhà vua sai con là Lê Minh Ðề đi sứ Trung Hoa. Khi Long Ðĩnh cướp ngôi, Minh Ðề bị kẹt lại bên Tàu, được vua nhà Tống cấp tiền, gạo, và khiến quan xứ Quảng cấp nhà cho ở. Vậy là còn ông số 11 ở bên Tàu.

Chưa hết, An Nam Chí Lược chép rằng vua Lê Ngọa Triều còn một người em nữa tên Lê Minh Vĩnh, từng được vua Ngọa Triều khiến đi sứ Trung Hoa, qua đó nhận sắc phong của vua Tống cho vua, rồi lại tự nhận sắc phong cho chính mình làm “Trì tiết Giao Châu Chư quân sự Phó sứ.”

Kết lại, khi Lý Công Uẩn cướp ngôi, ít ra ông phải lo tới các vị hoàng thúc, hoàng bá, hay con cháu của họ. Ít ra thì vẫn còn các ông con của Lê Ðại Hành số 4, 6, 7, 8, 10 trong nước, và ông số 11 ở bên Tàu. Chưa kể ông con nuôi. Trong đó phải tính tới một ông đã có sẵn sắc phong của vua Tàu.

Nói trắng ra, ngai vàng của Lý Công Uẩn chưa hẳn là vững, và nếu cứ ở lại Hoa Lư, chưa chắc Công Uẩn đã giữ được ngôi. Chính những điều Lý Công Uẩn nói ra cho thấy cá nhân ông cũng không dám tin vào vị thế của mình trong triều đình Hoa Lư.

“Tuyên truyền” cho việc dời đô

Thế yếu của Lý Công Uẩn, có thể là nhiều hoặc không nhiều, nhưng rõ ràng là nhà vua có nghi ngại chuyện đó. Vì vậy, ông phải tính tới chuyện thiên đô tới nơi nào gần nguồn hỗ trợ cho mình hơn, gần Cổ Pháp hơn.

Thủy đình bên ngoài đền Lý Bát Đế, in trên giấy tiền Đông Dương.

Ông cũng phải tính tới chuyện làm sao cho người dân quy phục. Và, theo đúng cách làm chính trị của thời đó, ông đổ thừa cho trời.

Trước đây, sét đánh đổ cây, sư Vạn Hạnh theo vết nứt mà đọc được cả một bài sấm bằng chữ nho, lại còn diễn ra từ bài sấm 80 chữ ra chuyện của cả một ngàn năm, kết thúc bằng việc Công Uẩn lên ngôi.

Vài mươi năm sau, Lý Thường Kiệt lại mượn miệng lưỡi trời với bài thơ “Nam quốc sơn hà.” Lý Thường Kiệt trước khi làm tướng từng làm hoạn quan. Lớn lên trong cung, những trò tuyên truyền chính trị, Lý Thường Kiệt học thẳng từ các vua Lý chứ chẳng đâu xa.

Những điều này phù hợp với kết luận rằng phe đảng nhà Lý thích dùng chuyện huyền bí để biện minh cho mình. Có bài thơ muốn rao cho lính thì bảo là thần viết (Lý Thường Kiệt). Muốn tuyên truyền lật đổ nhà Lê thì đặt ra một bài sấm từ vết nứt trong cây (Sư Vạn Hạnh). Cần lý do để xây một cung điện thật sang trên nền một cung điện đã bỏ, tung tin rồng hiện ra (Lý Thái Tông). Rồng hiện ra mà sợ người ta không biết thì “chiếu chỉ tuyên bảo cho bầy tôi biết” (Lý Thần Tông).

Vậy, nếu cần biện minh cho việc dời đô, và nếu cần tuyên truyền rằng việc nhà Lý nắm quyền là chính đáng, thì bịa ra một con rồng và đổi tên thành là “Thăng Long” cho mọi người đều biết.

Kết luận

Thời gian nhà Minh cai trị nước Nam đã ra lệnh đốt sách. Vì vậy, sử liệu về nước Nam thời trước Lê Lợi hầu hết là sử liệu gián tiếp.

Vì vậy, tình cảnh thực sự tại triều đình khi vua Lê Ngọa Triều băng hà, và Lý Công Uẩn cướp ngôi, không có nhiều bằng chứng trực tiếp. Tuy nhiên, chứng cớ còn sót lại cho thấy có phần nào vua Lý Thái Tổ không cảm thấy yên ổn tại Hoa Lư, không hẳn vì sợ giặc ngoại xâm, nhưng vì sợ các thế lực chính trị trong nước giành chính quyền.

Do đó Lý Thái Tổ muốn dời đi chỗ nào đó ít chống đối hơn, gần Bắc Ninh là gốc quyền lực của mình hơn, và có sẵn thành trì thì càng tốt. Ðó là lý do Lý Thái Tổ chọn thành Ðại La.

Nhưng nếu để cho dân biết mình vì sợ mà chạy, sẽ phản tác dụng. Không những cần dời đô, vua còn cần tuyên truyền cho xa, cho rộng, rằng việc dời đô là chính đáng, là có sự ủng hộ của thần thánh. Bởi lý do đó, vua mới lấy cái “cớ” là có rồng hiện lên, rồi đổi tên thành Ðại La, làm một đòn tuyên truyền chính trị cho mọi người đều biết.

Việc đặt tên thành Thăng Long, do đó, là một việc làm thuần túy có tính tiếp thị, tuyên truyền. Là một đòn chính trị, nhưng rõ ràng là đòn này rất hiệu nghiệm. Ðược một con rồng “bảo kê” (cho dù là rồng sa cơ hiện trên thuyền vua), nhà Lý trị vì tới 200 năm. Tên thành Thăng Long bị bỏ từ sau đời nhà Lý và thay bằng những tên như Đông Quan, Đông Đô, … nhưng tên gọi cũ ăn khách tới mức, bây giờ hỏi “tên cũ của Hà Nội là gì?” Chắc hẳn 10 người thì hết 9 trả lời là “Thăng Long.”

Sách Tham Khảo

Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1856-1881), bản dịch Viện Sử Học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.

Tác giả khuyết danh, Ðại Việt Sử Lược (1377-1388), bản dịch Nguyễn Gia Tường, NXB TP.HCM, Ðại Học Tổng hợp TP.HCM, 1993.

Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu et al., Ðại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư, bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.

Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1809-1819), NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007.

Ngô Thời Sĩ, Việt Sử Tiêu Án (1775), bản dịch Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, NXB Văn Sử, San Jose, 1991.

Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Ðại Học Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, tái bản 2002.

Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, NXB Trung Tâm Học Liệu Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1971.

This entry was posted in Bài trên báo, Nghiêm túc and tagged , , . Bookmark the permalink.

One Response to Ðặt tên ‘Thăng Long’: Ðòn tuyên truyền chính trị của Lý Thái Tổ? (phần 2)

  1. tl2010 says:

    Nếu xét về điạ thế thì Hoa Lư đất chật hẹp, nhiều núi bao quanh tiện khi ở thế thủ, nhưng không tiện cho phát triển giao thương. Thăng Long đất bằng phẳng, nhiêù sông ngòi thuận tiện giao lưu buôn bán, phát triển mở mang tuy nhiên lại không tiện khi bị tấn công. Hình như có câu Thăng Long phi chiến địa (hiêủ nôm na là Thăng Long không phải nơi thuận tiện khi có chiêns tranh-không biết có đúng). Nhà Lý chặn quân Tống sang đều phải đón đánh trươcs khi chúng kéo đến TL, như Lý Thương Kiệt chặn ở sông Như Nguyệt và kéo sang Quảng Châu. Hay nhà Trân 3 lần bỏ TL vườn không nhà trống khi quân Nguyên kéo sang. Đến năm 1946 Việt Minh cũng phải bỏ HN kéo lên Tây Bắc khi Pháp quay lại.
    Do đó Lý Công Uẩn dờì đô về TL cỏ thể một phần gần quê, nhưng cũng phải có tự tin và đủ mạnh trong tương qua lực lượng vơí các thế lực chống đối khác và vớí phương Bắc. Vì thế nhà Lý kéo dàì đươc 8 đời. Nhà Trần kế tiếp cũng đâu cần dờì đi đâu đâu. Đến nhà Nguyễn thì chọn đóng đô ở Huế,( địa hình có vẻ không thuận tiện cho giao lưu buôn bán ) có lẽ hợp với lập luận cuả bác HN về gốc quyền lực hơn.
    Theo tôi đến thời Lý Công Uẩn nguy cơ từ Tầu không còn quá lớn như từ các triêù trươc vì đất nước đã thống nhất đươc một thơì gian, thực lực đã mạnh hơn; đối nội không còn nhiều lực lượng đối đầu lớn. Đất nươc đã chuyên sang giai đoạn phát triển. Việc dơì đô đã mở ra một giai đoạn phát triển đất nươc rất mạnh cả về kinh tế, quân sự và văn hoá, để đến thời Lý Thường Kiệt còn mang quân sang đánh Quảng Châu (tất nhiên lúc này Tầu không phaỉ ở thơì thịnh).
    Chứng tỏ Lý Công Uẩn là một ngươì có tài có tầm nhìn để xây dụng một vương triêù lâu dài. Tất nhiên ông cũng khá cao thủ về chính trị khi dưạ chuyện mộng thấy rồng bay để hợp thức hoá việc đăt tên dời đô.
    Trên đây chỉ là một vài thiển ý, xin các bác chỉ giáo thêm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s