(Kỳ 3) Ba mươi năm mới đến một ngày

 

Phạm Nguyễn Ngọc Bảo và em gái Rose Viễn Phương cắt bánh sinh nhật của Rose. Rose sinh ra ngay sau khi di tản tới đảo, còn Bảo bị lên sởi và thoát chết nhờ bệnh xá tàu USS Kirk. (Hình gia đình)

(tiếp theo kỳ trước)

Vũ Quí Hạo Nhiên

Orlando, Florida, là thành phố vui chơi. Nói đến Orlando, người ta nghĩ đến Disney World, đến Epcot Center.

Với bà Lan Trần, Orlando là nơi hội ngộ những người từng giúp đỡ mình trong những ngày biến động lớn nhất đời. Và với Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, Orlando là nơi lần đầu tiên cô gặp những người cha kết nghĩa, những người là nguyên nhân cô mang tên Kirk.

Nhóm cựu thủy thủ đoàn chiếc USS Kirk hội ngộ tại Orlando, Florida vào tháng Mười. Họ mời cả gia đình Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên đến dự. Jim Bongaard, Donald Cox, hạm trưởng Paul Jacobs đều về.

Tại cuộc hội ngộ các thủy thủ thuyền USS Kirk cũng có mặt một số người Việt Nam. Họ là những người từng trải qua cuộc di tản năm 1975, ba mươi năm sau gặp chiến thuyền Kirk để ôn lại những chuyện ngày xưa và gặp lại những người từng giúp mình đi đến bến tự do. Họ cũng là những người, như các ông Trọng Lâm, Chu Bá Yến, và Nguyễn Xuân Sơn, đến với cuộc hội ngộ thủy thủ thuyền Kirk vì tình huynh đệ hải quân. Thân phụ Trọng Lâm là cựu Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, từng là tư lệnh Hải Quân Việt Nam. Chu Bá Yến là cựu Trung tá Sĩ Quan Tham Mưu Tư Lệnh Hải Quân. Nguyễn Xuân Sơn là cựu đại tá Tư Lệnh Hạm Đội của Hải Quân Việt Nam.

Có người muốn đến, nhưng không đến được, là ông Richard Armitage. Vào năm 1975, Armitage là tùy viên quân sự tòa Ðại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, được giao trách nhiệm điều khiển cuộc di tản. Armitage nói rành tiếng Việt, có tên Việt Nam là “Phú,” và sau này là Thứ Trưởng Ngoại Giao. Ông đã định đến cuộc hội ngộ này như một lần gặp lại công tác của mình 30 năm trước, nhưng đúng cuối tuần đó, một cơn bão nhỏ đổ tới tiểu bang West Virginia nơi ông cư ngụ. Ông đành ở nhà lo chống bão.

Từ California, ông Phạm Đình San bay qua. Ba mươi năm trước, ông là trung tá hạm trưởng chiếc Chí Linh HQ-11. Nay ông đang làm kỹ sư cho hãng Raytheon.

Từ New York, Phạm Nguyễn Ngọc Bảo bay xuống. Ba mươi năm trước, Bảo là một cậu bé bốn tuổi, lên cơn sởi trên đường di tản. Nay Bảo là một chuyên viên quảng cáo cho một công ty lớn.

Tất cả đều là những người từng cùng nhau trải qua một biến cố quan trọng trong đời. Họ đến cuộc hội ngộ với những câu chuyện để kể cho nhau nghe.

.

Người sĩ quan trên chiếc tàu Hải Quân Việt Nam

Kỹ sư Phạm Đình San nhận ra hình của chính mình trên báo. Khi báo Người Việt viết về cựu thủy thủ tàu USS Kirk tìm cô con gái tinh thần của mình và kể về chuyến công tác di tản của chiến thuyền này, báo Người Việt đăng tấm hình hai sĩ quan, một Mỹ một Việt, đứng nghiêm chào và trao quyền chỉ huy. Vị thiếu tá trong hình chính là ông Phạm Đình San.

“Tôi chính là người hạm trưởng trong tấm hình đăng trên báo,” ông San gọi vào tòa soạn Người Việt và báo cho tôi biết.

Chiếc tàu trong hình là tàu Chí Linh HQ-11 của Hải Quân Việt Nam, ông San giải thích. Chiếc Chí Linh nằm trong đoàn tàu chiến của Hải Quân, đi từ Côn Sơn đến Philippines. Song hành với đoàn tàu này là hai chiến hạm Mỹ, chiếc USS Kirk và chiếc USS Cook.

Từ sau Tết Ất Mão 1975, chiếc Chí Linh được lệnh ra tuần tiễu bảo vệ dàn khoan dầu Bông Hồng 9, ngoài khơi Vũng Tàu. Chưa được hai tháng, dàn khoan rút đi. “Tối hôm đó là ngày 19 tháng 3, sinh nhật tôi,” ông San kể lại. “General Manager của dàn khoan mòi tôi ăn tối. Bữa ăn nói chuyện bình thường, không có gì cả. Sau bữa ăn, ông ấy nói với tôi sáng mai cả giàn khoan sẽ rút đi.”

Trung tá Phạm Đình San chuyển giao tàu chiến HQ-11 cho hải quân Hoa Kỳ. (Hình trích Kỷ yếu USS Kirk 1975)

Người general manager đưa danh thiếp cho ông San. “Ông ấy đưa tôi cái cạc vizít. Dân làm ăn họ hay có cạc vizít.” Danh thiếp này, tới nay ông San vẫn còn giữ. “Ông ấy còn nói thêm, nếu trong thời gian sắp tới có cần gì thì liên lạc,” số điện thọai và địa chỉ ở Singapore. “Mình thì nghĩ là họ khoan xong có lẽ không thấy dầu thì họ nhổ neo đi, đâu có ngờ là tín hiệu riêng,” ông San kể.

Sáng sớm, dàn khoan nhổ neo. Không còn dàn khoan để canh giữ, ông San điện về Bộ Tư Lệnh vùng 3 duyên hải, xin chỉ thị. Lập tức, tàu Chí Linh nhận được điện hỏa tốc, “trực chỉ Cam Ranh và nhận lệnh của Bộ Tư Lệnh vùng 2 duyên hải.”

Ra Cam Ranh, tư lệnh vùng 2 duyên hải là Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho tàu Chí Linh tuần tiễu Vịnh Cà Ná. Từ Cà Ná, tàu Chí Linh sau đó lại được lệnh trực chỉ Qui Nhơn, để phối hợp cùng nhiều tàu chiến khác, hỗ trợ tiếp cứu Sư đoàn 22 Bộ binh khi đó đang rút lui. Đến khi Qui Nhơn thất thủ, tàu Chí Linh được lệnh trở lại vịnh Cà Ná.

“Đường Quốc Lộ 1 chạy quanh vịnh Cà Ná, đêm đêm, tôi thấy xe tăng Bắc Việt bật đèn nối đuôi nhau đi. Khi đó, vì quân nhu quân liệu thiếu, chúng tôi bị giới hạn mỗi ngày chỉ bắn 2 viên, nhưng tôi thấy xe tăng đi hàng đoàn, tôi ra lệnh bắn, bất chấp giới hạn.”

Giáp bên vịnh Cà Ná có hai hòn núi, mang tên Mũi Đá Chẹt. Quốc Lộ 1 chạy đường đèo quanh Mũi Đá Chẹt, băng cây cầu giữa hai ngọn núi. “Mục tiêu của tôi là cây cầu đó. Tôi nhắm ngay cây cầu, cứ xe tăng đi qua là tôi bắn,” ông San kể tiếp.

Chiếc Chí Linh đơn thương độc mã đứng chơ vơ giữa vịnh Cà Ná bắn nhau với đoàn xe tăng, pháo, bộ đội đang tiến về hướng Cam Ranh, Phan Thiết.

Đứng sát bờ, tàu Chí Linh từ biển bắn vào, quân đội Bắc Việt từ đất liền bắn ra. “Theo nguyên tắc tác chiến, phải có ăng ten chính và ăng ten phụ,” ông San giải thích. “Khi đó, viên hạ sĩ quan vô tuyến là thượng sĩ Nguyễn Văn Bàng đi cùng một số người nữa, đi trong lòng tàu ra phía sau, leo lên mở nắp cửa tròn định dựng một cây ăng ten phụ.”

Đúng lúc đó, chiếc Chí Linh bị bắn trúng trực xạ. Viên đạn bay xuyên từ cánh tả ngạn, xuyên tới bên hữu ngạn tàu, nhưng bay xuyên ra tới ngoài rồi mới nổ. Tuy không bị đạn nổ trong tàu – “nếu nổ trong tàu thì chắc chìm rồi” – nhưng bị thủng hai lỗ hai bên, “lớn bằng nắp thùng phuy.”

Chiếc tàu thì thoát hiểm, nhưng viên thượng sĩ thì không được thoát. Đúng lúc đang mở nắp lên boong tàu, bị viên đạn trực xa bắn trúng, thượng sĩ vô tuyến Nguyễn Văn Bàng trở thành quân nhân Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng hy sinh trên tàu Chí Linh HQ-11.

Lính và thường dân trên tàu Chí Linh HQ-11 chào cờ lần cuối trước khi trao quyền chỉ huy cho Hải Quân Hoa Kỳ để có thể vào căn cứ Subic Bay. (Hình: San Phạm cung cấp).

_

Chạy khỏi Sài Gòn

Cam Ranh, Phan Thiết thất thủ, đoàn tàu cũng rút. Tới mặt trận Phước Tuy Bình Tuy, đoàn tàu lại tham gia giải cứu bốc sinh viên sĩ quan Đà Lạt chạy từ cao nguyên về bờ biển. Đến khi Bình Tuy mất nốt, đoàn tàu rút về Vũng Tàu, rồi về Sài Gòn.

Chí Linh cập cầu Sài Gòn chiều ngày 28 tháng Tư. Lúc này, quân cảng đã bị cấm trại, nội bất xuất ngoại bất nhập. Đến trưa ngày 29 tháng Tư, tình hình Sài Gòn đã trở nên hỗn loạn, ông San xin phép về thăm nhà. Đây sẽ là chuyến về thăm nhà đầu tiên kể từ ngày Tết, sau khi nhận lệnh lên tàu đi tuần tiễu quanh dàn khoan dầu. Và cũng sẽ là chuyến cuối cùng.

Tư lệnh phó hạm đội cấp cho ông San một đặc vụ lệnh, lại cho mượn một xe jeep và một tài xế. Trên đường ra cổng, có hai hạm trưởng khác xin đi theo. Chở ông San về đến nhà, ông tài xế tiếp tục chở hai vị tá kia về nhà họ.

Lúc đó, gia đình ông San ở nhà vừa đông thêm một ít. Ngoài người vợ trẻ và cậu con trai mới 2 tuổi, còn có cô dưỡng nữ và cũng là con người em trai ông San, và bà nội của các cháu, mới từ Nha Trang chạy vào.

Đã về được nhà, thấy cả nhà bình yên, bụng cũng an tâm nhưng thực sự cũng không biết phải làm gì. Đến khoảng 7 rưỡi tối, người tài xế xe jeep bỗng xồng xộc chạy vào nhà. “Ông ấy hô lên, ‘May quá hạm trưởng còn đây, tôi chở hai ông hạm trưởng kia và gia đình họ vào lại bộ tư lệnh hạm đội rồi,’ rồi ông ấy giục tôi lên xe.”

Cả gia đình ông San năm người chất lên xe jeep chạy vào quân cảng, nhưng đến nơi, cả vùng đã rào kẽm gai kín mít, quân cảnh, thủy quân lục chiến đứng gác, không thể vào được, đành phải chạy qua cư xá Cửu Long, vào nhà một sĩ quan hải quân khác là ông Phạm Văn Hưng. Ông Hưng không có nhà, người em vợ cho biết “anh Hưng chị Hưng còn ở căn cứ Tân Châu.”

Để gia đình ở lại nhà ông Hưng, ông San lấy thuyền của ty quân cảng vào lại bộ tư lệnh hạm đội. Vừa đến nơi, ông San được gọi lên họp khẩn cấp.

Không phải một mình ông San lên họp. Trong phòng họp có mặt tất cả các hạm trưởng. Tại đây, họ nhận được lệnh của vị Tư Lệnh Hạm Đội:

“Tư Lệnh Hải Quân đã cho lệnh di tản. Các hạm trưởng chuẩn bị rời bến.”

Lúc 11:47 đêm 29 tháng Tư, tàu Chí Linh tách bến. Trên tàu còn có đại tá Đỗ Kiểm, tham mưu phó hành quân, trung tá Phan Tấn Hưng, chỉ huy trưởng người nhái, gia đình ông San và gia đình ông Phan Tấn Hưng. Người em vợ và mẹ vợ ông Phạm Văn Hưng quyết định ở lại, “chờ anh Hưng.”

Một toán thủy thủ được cho ra ngoài tìm gia đình để cùng đi, nhưng toán này đã phân tán mỗi người một nơi, không còn liên lạc được nữa. “Sáng 30 tháng Tư, tôi quyết định neo tại phao London Maru, ngoài cửa Vũng Tàu để chờ toán nhân viên HQ-11 về nhà đón gia đình. Khi nghe radio biết ông Dương Văn Minh đầu hàng, tư lệnh hạm đội Phạm Mạnh Khuê ra lệnh ‘Anh hãy nhổ neo ra Côn Sơn. Phi cơ địch có thể cất cánh từ Tân Sơn Nhứt. Có thể bị truy kích.’”

Chiếc Chí Linh ra Côn Sơn, nhập chung đoàn tàu Hải Quân Việt Nam và thực hiện chuyến đi cuối cùng, rời khỏi tổ quốc.

.

Cậu bé nghe tiếng đạn bắn quanh tai

Khác với một Phạm Đình San đến ngày 30 tháng Tư đã gầy dựng được binh nghiệp, Phạm Nguyễn Ngọc Bảo hôm đó chỉ là một cậu bé còn đang lên sởi.

Bảo kể lại, “Tôi hoàn toàn không nhớ gì chuyện ngày 30 tháng Tư. Ký ức duy nhất của tôi là ngày hôm đó bố tôi chở mẹ con tôi đi trên xe máy, bố ngồi trước, mẹ ngồi sau. Tôi ngồi giữa, không nhớ mình nhìn thấy gì, chỉ nhớ nghe tiếng đạn bắn quanh tai.”

Gia đình Bảo là một trong những gia đình cuối cùng chạy ra được khỏi Sài Gòn. Tới lúc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, gia đình Bảo vẫn còn chạy xôn xao trong đô thành.

Thân phụ của Bảo là trung úy Phạm Xuân Vinh, tốt nghiệp trường Defense Language Institute tại Texas, khi đó đang dạy tại trường Sinh Ngữ Quân Đội ở Sài Gòn. Chạy trên chiếc xe chở con trai và người vợ trẻ đang mang bầu rất lớn, ông rất lo lắng. Tàu bè, máy bay, chiếc nào chạy được đều chạy hết cả. Biết làm sao tránh được làn sóng quân đối phương đang tràn vào?

Chiếc tàu Lam Giang HQ-402 chật ních người tỵ nạn. Đâu đó trên tàu là gia đình Phạm Nguyễn Ngọc Bảo. (Hình: Trích Kỷ yếu USS Kirk 1975)

May quá, chạy đến bến Bạch Đằng, thấy trong khu quân xưởng có một chiếc tàu đang bỏ sửa, ông Vinh đưa vợ con chạy lên.

Không phải một mình gia đình ông Vinh chạy lên tàu. Gần 5000 người chen chân lên chiếc tàu chưa sửa xong. Đó là chiếc hải vận hạm Lam Giang HQ-402.

Đến nay, 30 năm sau, chiếc tàu bị hỏng gì thì không còn ai biết chắc chắn. Một số cựu hải quân Hoa Kỳ chứng kiến cuộc di tản này thì nhớ lại là chiếc HQ-402 là một chiếc tàu há mồm, bị hư hỏng sao đó nên mồm cứ há mà không ngậm lại được. Lại có người nhớ là chiếc HQ-402 “què giò”, máy chạy lệch một bên. Có một điều tất cả nhân chứng đều đồng ý, là tàu Lam Giang bị nước vào. Chiếc tàu đi tới đâu bị nước vào tới đó. Bất kể. Người ta vẫn liều mình chạy ra biển.

Khi tàu Lam Giang rời bến, đã là 3 giờ chiều ngày 30 tháng Tư. Tàu không có hạm trưởng, không có cả hạm phó, nhưng vẫn hè nhau chia công việc cho tàu chạy. Xe tăng của Bắc Việt đã vào Dinh Độc Lập được hơn 4 tiếng. Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước đó hơn 3 tiếng. Hai bên bờ sông Sài Gòn, đầy những xe tăng mang cờ Mặt Trận Giải Phóng.

Chiếc Lam Giang lấy khăn trải giường dùng làm cờ trắng trương lên. Bộ đội mới vào thành, không biết hướng nào là hướng ra, hướng nào là hướng vô, tưởng là chiếc tàu từ biển vào đầu hàng, nên không thắc mắc gì cả. Cứ thế mà tàu Lam Giang chạy ra biển.

Sáng 1 tháng Năm, tàu Lam Giang hội ngộ đoàn tàu Hải Quân Việt Nam ngoài khơi Côn Sơn. Tàu bị vô nước quá nhiều, không thể đi đến Subic được. “Mọi người trên tàu chuyển dần sang các tàu khác,” ông Vinh kể.

Một số sản phụ sắp sinh và gia đình được chuyển qua chiến hạm USS Kirk của Hoa Kỳ. Bà Nguyễn Thị Ân, mẹ của Bảo, nằm trong số này.

Đoàn tàu khởi hành rời Việt Nam, bỏ lại chiếc Lam Giang và một hải vận hạm nữa cũng bị hỏng, chiếc Hậu Giang HQ-406. Không dám bắn chìm tàu vì sợ sức nổ của đạn báng qua tàu chở người tỵ nạn, các thủy thủ đã mở van cho nước tràn vào. Tuy nhiên, tàu được thiết kế an toàn, mở van cho nước vào thì chưa chìm, chỉ nằm lửng lơ giữa biển. Sau này, chính quyền cộng sản ra kéo về, sửa, tiếp tục sử dụng.

Đoàn tàu đến Subic, rồi người tỵ nạn được chuyển qua tàu hàng hải dân sự, chở tới Guam. Trên chiếc tàu Kirk, với khả năng Anh ngữ giỏi, ông Vinh được nhờ thông dịch. Ông cho biết, “Trên tàu Kirk, tôi làm việc hộ tống các bà bầu, phân phát thực phẩm, thông dịch tiếng Anh.”

Cũng trong dịp này, gia đình ông Vinh và vợ là bà Nguyễn Thị Ân làm quen và bắt bạn với cô Lan. Hai phụ nữ cùng sắp sanh, cùng lênh đênh trên biển, cùng hoang mang với tương lai không biết ra sao. Bảo, con trai lớn ông bà Vinh, lại bị sốt, lên sởi.

Ngày 13 tháng Năm, gia đình tới Guam. Bốn hôm sau, vì lý do sức khỏe, gia đình được đưa vào khu gia cư của quân nhân trong căn cứ, gọi là CBQ – Consolidated Bachelor’s Quarters. Bảo tuy đã hết sởi nhưng còn phải hồi phục.

Ngày 18 tháng Năm, trong Navy Hospital, bà Ân sinh hạ một cô con gái, được đặt tên là Phạm Ann Rose, với tên Việt Nam rất thích hợp với hoàn cảnh, là Viễn Phương. Em bé Rose đã ra đời trước em bé Kirk bốn ngày, trong cùng bệnh viện.

Nhưng ông Vinh đã không có mặt tại đó. Ông nói, “Khi bé Rose chào đời tại Navy Hospital, bố và anh của bé là Bảo vẫn còn chờ trong khu gia cư CBQ, rồi sau đó chuyển về khu trại tỵ nạn gọi là Tent City, tại Orote Point trên đảo Guam.”

Bé Rose được 4 ngày thì hai mẹ con được đưa về trại tỵ nạn tại Camp Asan. Phải tới một tuần sau đó, gia đình mới đoàn tụ. Lần đầu tiên Bảo thất mặt em gái mình là ngày 29 tháng Năm, trong Camp Asan.

Bảo trong hình chụp vào tháng Chín 1975, và em gái Rose Viễn Phương, tại Fort Worth, Texas. (Hình gia đình)

Ngày 2 tháng Sáu, bé Rose và bé Kirk Giáng Tiên được rửa tội trong trại Guam. “Rose sinh trước nhưng rửa tội cùng ngày,” ông Vinh nhớ lại. Gần ba tuần sau, gia đình ông Vinh lên máy bay đi Camp Pendleton. Từ đây, gia đình ông được bảo trợ qua sống tại Texas cho đến đầu năm 1976 dọn qua Seattle, nơi ông sống từ đó đến nay.

Hơn ba mươi năm sau, ông Phạm Xuân Vinh, lúc này làm thông dịch viên chuyên nghiệp, đọc trên trang web nguoi-viet.com bài báo về các thủy thủ tàu Kirk tìm ra bà Lan Trần.

Ông Vinh gọi điện thoại vào tòa soạn. “Nếu ông nói hộ với cô Lan, tôi là Phạm Xuân Vinh, chồng cô Ân, chắc chắn cô Lan nhớ.”

Mối dây từ ba mươi năm trước, phút chốc liền lại.

.

Hội ngộ

Từ New York, Bảo bay đến Orlando dự buổi gặp mặt thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk với tư cách đại diện cho cả gia đình. Cậu bé bốn tuổi lên sới năm xưa nay đã là một thanh niên tráng kiện, chuyên viên quảng cáo, nói hai thứ tiếng lưu loát như gió.

Bảo gặp lại Steve Burwinkel, người trưởng bệnh xá (Chief Hospital Corpsman) trên tàu Kirk ngày xưa, nay đã về hưu. Bảo bắt tay ông Burwinkel nồng nhiệt:

“Tôi vui quá được gặp ông. Xin cám ơn ông ngày xưa đã chăm sóc tôi khi bị sởi.”

Ông già cười tươi và đáp khiêm tốn: “Có gì đâu. Chỉ biết đau đâu chữa đó thôi mà! Thú thật bây giờ tôi cũng không nhớ hồi đó tôi phải chữa bao nhiêu vết thương và chăm sóc bao nhiêu thứ bệnh nữa.”

Lan Trần gặp lại Donald Cox. Sau ba mươi năm, người thanh niên ngày xưa nay tóc đã bạc nhưng nét mặt còn trẻ và người rất khỏe. Ông sung sướng ôm chầm lấy gia đình bà Lan, Kirk Giáng Tiên, và em trai James. “Cứ như tìm thấy một người em gái bị lạc,” ông xúc động.

Rồi quay sang Giáng Tiên, ông hỏi, “Thấy thế nào khi tự nhiên xuất hiện mấy chục người bố kết nghĩa?”

“Ô, vui lắm. Cảm động nữa.”

“Thế cô có bạn trai chưa?”

“Dạ rồi.”

“Thế sao không đem tới trình diện các bố, để các bố còn làm khó dễ nữa chứ!”

Mọi người cười ồ.

Trong tiếng cười đùa của nhóm thủy thủ và gia đình họ, sự hiện diện của gia đình em bé Kirk baby như một kết cuộc cho đời chiến binh đã qua từ lâu.

Đối với những cựu quân nhân này, Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên tượng trưng cho cái đẹp và niềm tự hào của thời gian tham chiến tại Việt Nam.

Con trai hạm trưởng Jacobs nói lên cảm tưởng này. “Nhà tôi mấy đời đi hải quân, từ bé tôi đã từng nghe rất nhiều chuyện về hải quân. Nhưng nghe chuyện cô bé Kirk, và gặp tận mặt những người Việt Nam từng di tản trên tàu Kirk, tôi mới hiểu thêm nữa về binh nghiệp của cha mình.”

Ông Jim Bongaard nói, “Với chiến tranh Việt Nam, nhiều người nhìn người lính Mỹ không mấy thiện cảm, chỉ vì lý do chính trị. Trong khi đó, chúng tôi làm biết bao nhiêu điều tốt lành, thì tự chúng tôi làm, và tự chúng tôi biết, thực ra cũng đủ rồi. Nhưng có Kirk baby tại đây, rõ ràng em bé ‘Kirk baby’ là bằng chứng và là biểu tượng cho kết cuộc tốt đẹp với người lính Mỹ ngày đó.”

(Bài đăng báo Xuân Người Việt 2006)

 

This entry was posted in Bài trên báo and tagged , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s