(Kỳ 2) Người phụ nữ chạy loạn và cô gái mang tên tàu chiến

Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên lúc 10 ngày tuổi. Phía xa xa là trại lính ở Guam. (Hình gia đình)

.

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

(tiếp theo kỳ trước)

“Chuyến tàu rất là tốt với người tỵ nạn Việt Nam mình,” bà Lan Trần nhớ lại về chiến thuyền USS Kirk, đã đưa gia đình bà, lúc đó chỉ là một thiếu nữ trẻ mang bầu, đến bến tự do.

Ba mươi năm sau, con gái của bà Lan đã là mục tiêu tìm kiếm suốt nhiều tháng của các cựu thủy thủ chiến thuyền USS Kirk. Họ biết rằng đã có một thiếu nữ sau khi được cứu trên đường di tản đã đặt tên “Kirk” trong tên con gái mình.

Sau khi báo Người Việt đăng bài phóng sự về các cựu thủy thủ Mỹ tìm cô gái mang tên “Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” bà Lan Trần, tên Việt là Nguyễn Thị Tường Lan, nhận ra câu chuyện của chính mình và bắt liên lạc được với những người ân nhân cũ.

Ông Jim Bongaard vui mừng: “Chúng tôi tìm cô gái ‘Kirk baby’ cả mấy tháng trời, in tờ rơi, nhờ người dịch ra tiếng Việt, gửi email khắp nơi. Chúng tôi cũng định vào cả kho dữ liệu của Sở Di Trú. Nhưng nhờ bài phóng sự trên báo Người Việt, mẹ của ‘Kirk baby’ đã liên lạc với chúng tôi.”

Thủy thủ Mỹ và một bé trai Việt. (Hình trích kỷ yếu USS Kirk 1975)

.

Thoát vào phút chót

Đường di tản của cô thiếu nữ tên Lan đã không đơn giản. Mặc dù chồng cô, trong những tháng cuối cùng, là một phi công thuộc phi đoàn đưa đón các VIP và đóng trong Tân Sơn Nhứt, nhưng cô Lan đã không được dễ dàng lên máy bay rồi đi, mà cuộc di tản của cô Lan cũng gian truân không thua các cuộc di tản khác của người Việt Nam lúc bấy giờ.

Đến 9, 10 giờ đêm ngày 29 tháng Tư, 1975, cô Lan vẫn còn ở nhà. Trong phi trường bị pháo kích nhiều quá, cô đã dọn qua nhà một người họ hàng là một bác sĩ dân biểu. Người chồng gọi về giục gia đình đi. Mẹ cô Lan cũng quyết định, “Thôi, đi!”

Gia đình cô Lan lúc bấy giờ đã chung sẵn tàu ở Tân Thuận Đông, nhưng không có cách nào ra đó cả. Bấy giờ, Sài Gòn đã loạn. Các Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và sau đó là Trần Văn Hương đều đã từ chức. Tân tổng thống Dương Văn Minh mới nhậm chức được một ngày và không ai thấy có hy vọng gì cứu vãn tình hình. Xuân Lộc đã thất thủ trước đó một tuần. Các tuyến phòng thủ cuối cùng quanh Sài Gòn đã bị chọc thủng.

May thay, lúc bấy giờ, người tài xế của ông dân biểu chủ nhà, sau khi chở ông đi di tản, lại quay về nhà mình, và không quên ghé qua nhà ông dân biểu trao chìa khóa! Mẹ con cô Lan nhân dịp đó nhờ ông tài xế chở ra bến tàu. Ông chở ra thật.

Nhưng được chở ra bến tàu vẫn chưa có nghĩa là đi được. Khi mẹ con đến nơi, cổng bến tàu đã bị chặn lại. Hàng rào kẽm gai chặn không cho xe đi qua.

Đang nấn ná đứng chờ thì một đoàn xe của một vị tướng nào đó cũng đến để lên tàu di tản, “người ta mở rào cho đoàn xe ông tướng, thế là tài xế xe mình cũng lẻn vô luôn,” bà Lan nhớ lại.

Đó là mới vào được cổng, còn tàu lớn thì đã rời khỏi bến, tuy chưa đi. Vì một lý do gì đó, tàu còn đứng lững lờ bên kia kênh. Thấy tàu đó, mà không lên được.

Trong lúc đang tuyệt vọng, hai mẹ con gặp một nhóm Nhân Dân Tự Vệ. Họ đồng ý cho mướn tàu nhỏ để ra tới tàu lớn, “bao nhiêu cũng được.” Nói là thế, nhưng họ giựt lấy túi đồ trên tay ông tài xế, cướp hết tiền bạc và nữ trang. Tàu lúc đó bỗng dưng tự tiến sang bên này sông, và người nhà trên tàu nhận ra hai mẹ con đón lên. Bước lên tàu, bà Lan kể, “lúc đó không còn dép đi chân.”

Lên tàu lớn, lúc đó mới biết vì sao tàu còn vẩn vơ tại chỗ: Từ hôm 28 tháng Tư, tàu bị thủy triều dâng cao, nên chui không lọt gầm Cầu Chữ Y. Lúc mẹ con cô Lan lên tàu, bỗng dưng thủy triều xuống, tàu mới khởi hành. “Lúc đó mình còn trẻ lắm, mà lại có bầu sắp sanh, cả tàu đều nói Lan hên quá, chắc tàu chờ cô này,” bà Lan kể. Và thế, con tàu ra khơi, chính người di tản tự lo cho con tàu đi, vì thủy thủ, hạm trưởng, hạm phó đã đi đâu hết rồi.

Hình chụp từ tàu USS Kirk: Hai tàu chiến VNCH đầy người di tản. (Hình: Jim Bongaard)

.

Gặp tàu Kirk

Trong khi Sài Gòn đang náo loạn, ở ngoài khơi Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ đang có nhiều tàu chiến neo sẵn.

Chiếc tàu chở mẹ con cô Lan, ra tới cửa sông, gặp ngay tàu USS Kirk. Chiếc USS Kirk thì lớn quá, mà tàu di tản thì nhỏ, không đến gần được. Thay vì chuyển thẳng lên tàu USS Kirk, đoàn người chuyển qua chiếc Lý Thường Kiệt, một tàu chiến của Hải Quân Việt Nam.

Cô Lan được đưa vào phòng bệnh. Một người thông dịch cho biết tàu Mỹ muốn đón người bệnh và các sản phụ trên 7 tháng, nhưng cô Lan không chịu đi. “Lúc đó tôi chỉ có mẹ, tôi không chịu đi một mình. Sau cùng người ta đồng ý cho mẹ theo, hai mẹ con mới đi,” bà Lan kể.

Trời tối đen như mực, Lan nằm vào giỏ lớn của U.S. Navy rồi người ta cột dây thòng cô xuống canô. Qua tàu Mỹ, ròng rọc bốc cô lên. Lúc đó đã qua ngày 30 tháng Tư.

.

Donald Cox

Lên tàu Kirk, cô Lan lại vô bệnh xá. Mỗi ngày, cô lên boong cho thoáng. Cũng mỗi ngày, hạm trưởng Paul H. Jacobs vào thăm các sản phụ. Trung tá Jacobs, sau này về hưu với cấp bậc đại tá, kể lại, “Tôi có nhớ tôi vào thăm sản phụ, có nói đùa là giục họ sanh cho mau, cho chiến hạm USS Kirk có một đứa con.” Nằm bệnh xá một vài giờ, vì chưa sanh Lan được chuyển vào phòng VIP cùng với các gia đình sản phụ Việt Nam khác.

Trên chiếc Kirk, cô Lan gặp một quân nhân tên Donald Cox. Cox là một thành viên phi đoàn trực thăng, chẳng may trực thăng hỏng, không nhận nhiệm vụ bay nữa, nên được giao việc giúp người tỵ nạn.

Khi đó, Donald Cox là một thanh niên 20 tuổi. Ông kể lại, “Nhiệm vụ của tôi lúc đó là tháp tùng người tỵ nạn khi người ta cần đi đây đi đó trên tàu. Một phần là vấn đề an ninh, tàu chiến có rất nhiều thứ nguy hiểm trên đó, không để thường dân đi lại tự nhiên được.”

Trường hợp mẹ con cô Lan, ông Cox mỗi ngày đưa lên boong “vì họ muốn lên cho thoáng. Lúc đó cô Lan rất trẻ, bụng bầu cũng lớn lắm rồi. Chồng cô là phi công, tôi cũng là dân máy bay, nên chúng tôi nói chuyện rất hợp dù cô ta tiếng Anh không rành.”

Tấm hình trung sĩ Donald Cox trao cho bà Nguyễn Thị Lan 30 năm trước với tên và điạ chỉ bạn gái ở Mỹ để liên lạc, tới nay bà Lan vẫn còn giữ.

Bà Lan cũng kể lại gần như hệt: “Tôi gặp ông Cox, không biết tại sao mà mình thì không biết tiếng Anh, chỉ lõm bõm vài chữ, mà nói chuyện với nhau hiểu hết. Chắc tại ông Cox bay trực thăng, mà chồng tôi là phi công, nên hai bên hiểu nhau, chứ tiếng Anh tiếng U lúc đó có biết gì.”

Cho đến lúc đó, chồng cô Lan vẫn chưa biết sống chết, đi hay ở thế nào. Ông Cox làm mọi cách để tìm cho ra tung tích, nhưng vẫn không có gì. “Tôi dò hết các danh sách tôi có được. Tôi điện qua các tàu khác, cũng không trả lời. Có lẽ lý do tôi giúp cô Lan mọi cách, vì ở nhà tôi có một cô em gái, và Lan làm tôi nhớ đến em gái tôi. Lan lúc đó trông rất trẻ, chắc khoảng 16, 17 tuổi gì đó.”

Cox chụp một tấm hình của mình đưa cho Lan. “Ông ghi tên, địa chỉ người bạn gái ở Mỹ để giữ liên lạc. Tấm hình tôi còn giữ,” bà Lan cho biết.

Nhưng người bạn gái đó, ít lâu sau chia tay ông Cox. Sáu tháng sau, ông gặp người vợ tương lai của mình. Hai vợ chồng lấy nhau đã 29 năm nay. Gia đình vợ ông Cox cũng đã từng sống tại Việt Nam vào năm 1967, 1968, sau Tết Mậu Thân sợ bỏ đi nhưng sau đó cũng trở lại năm 1969. Gia đình vợ ông Cox có một cô con gái nuôi là người Việt Nam.

Tháng 10 năm 1975, Donald Cox chuyển về San Diego. “Tôi cố gắng tìm mẹ con Lan nhưng không ra. Nay liên lạc được, cứ như là tìm thấy một người em mất tích.”

Donald Cox đã giải ngũ từ năm 1978. Hiện nay, ông là Kỹ Sư Chính cho hãng Raytheon tại Tucson, Arizona. Đồng thời ông đang học thêm để lấy Tiến Sĩ tại đại học University of Arizona.

Ba mươi năm sau biến cố 30 tháng Tư, Donald Cox vẫn còn lo giúp người tỵ nạn, nhưng là người tỵ nạn trong nước. “Tôi có một dàn phát thanh tại gia, gọi là ‘ham radio,’ nên tôi tham gia đội Nội An tại Tucson. Hiện giờ, tôi dùng dàn ham radio để yểm trợ cho việc giúp đỡ người chạy tránh bão Katrina lạc qua Arizona.”

.

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên

Từ trên tàu Kirk, đoàn người di tản được đưa vào Subic Bay ở Philippines. Cô Lan lại được đưa vào bệnh viện, nhưng chẳng bao lâu cô xin ra ngoài.

“Lúc đó trong căn cứ Subic Bay người ta dựng lều ngoài bãi biển cho người Việt Nam tỵ nạn. Tôi ở trong bệnh viện, cô đơn quá, xin ra ngoài bãi biển với mọi người.” Sau đó, đoàn người được chuyển đi Guam. Hai mẹ con cô Lan đi trên chiếc tàu buôn Mỹ.

Đến Guam, cô Lan được đưa vào thẳng Navy Hospital. Tại đây, hôm 22 tháng Năm, cô Lan trở dạ và sanh một em bé gái. Giấy khai sinh của em bé ghi địa chỉ của mẹ là “Tent City” trong căn cứ Guam.

Để đáp ơn chiếc tàu đã giúp cứu vớt và giúp đỡ mình quá nhiều, cô Lan dùng tên Kirk để đặt cho em bé. Nhưng Kirk là tên con trai, làm sao đặt cho con gái? Thôi thì không dùng làm tên được, thì dùng làm tên đệm. Em bé được mang tên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên.

Hạm trưởng Jacobs và ông Donald Cox có đến thăm cô Lan tại Guam một lần. Hạm trưởng Jacobs kể lại, “Chính nhờ tôi đến thăm cô Lan nên mới biết là có một cô bé mang tên thuyền Kirk, tôi mừng lắm.” Ông Cox, sau khi từ giã mẹ con cô Lan, có quay trở lại Việt Nam để hộ tống một đoàn tàu Hải Quân Việt Nam. Sau khi hoàn thành công tác đó, cũng đến Guam thăm em bé mang tên Kirk.

Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên lúc 4 tháng, trong vòng tay mẹ Nguyễn Thị Tường Lan. (Hình gia đình)

Gia đình cô Lan, từ hai mẹ con nay thành ba người, ở lại Guam 10 ngày. Em bé Tiên được rửa tội tại đây. Sau đó gia đình chuyển qua trại Pendleton ở California.

Khi bé Tiên được 3 tháng, Hồng Thập Tự liên lạc được với chồng cô Lan. Vào phút chót, ông đã bay qua Thái Lan và từ đó được chuyển qua trại Fort Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Hồng Thập Tự đưa ông qua Pendleton, gia đình xuất trại đi Baltimore. Ở đây chỉ được 9 tháng, lại về California; ở Baltimore “lạnh quá,” bà Lan kể.

Giáng Tiên nay đã 30 tuổi, tốt nghiệp đại học California State University, Long Beach, hiện chuyên tổ chức các hội nghị, các hội chợ kinh doanh. Giáng Tiên nói rành tiếng Việt, đang học thêm đọc và viết. Giáng Tiên có một người em trai, James Trần, cũng tốt nghiệp Long Beach, làm chuyên gia hoạt hình cho trò chơi điện tử. Bố của hai chị em, người phi công phi đoàn Hỏa Long xưa bay vi vút ở Nha Trang, đã qua đời cách đây 5 năm.

Trong một ngày tình cờ đến khu Bolsa đi chợ, người thiếu nữ ngày xưa nay đã có hai con tốt nghiệp đại học, mua một tờ báo Người Việt. Về nhà, mở ra, bà Lan thấy hàng chữ “Tìm đâu, cô gái mang tên chiến thuyền USS Kirk?” Bà biết ngay là chuyện của mình. Đọc bài phóng sự, bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa tràn về. Bà liên lạc với Jim Bongaard qua một email viết bằng tiếng Anh.

“Tôi là Lan Nguyễn Trần, người phụ nữ mang bầu được đưa vào bệnh viện trong căn cứ Subic (Philippines), và sau đó chuyển qua bệnh viện Hải Quân tại căn cứ Guam và Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên đã sinh ra tại đó.

Hôm nay tôi đọc báo Người Việt và biết được thủy thủ đoàn thuyền USS Kirk đang tìm con gái tôi. Nước mắt tôi trào ra, tim tôi ấm lại, tâm hồn tôi như được giải thoát vì hàng bao nhiều năm qua tôi luôn thắc mắc không biết chiếc USS Kirk bây giờ ra sao, không biết cách nào liên lạc với thủy thủ đoàn.”

(còn tiếp)

This entry was posted in Bài trên báo and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s