Chuyện cô gái mang tên tàu chiến (kỳ 1)

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên. (Hình: Benjamin Vũ)

(Bài đăng báo Xuân Người Việt 2006)

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

Ngày Tết, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một câu chuyện.

Có người bảo đây là câu chuyện của hai người thiếu nữ xinh đẹp, một thiếu nữ của 30 năm trước và một thiếu nữ của 30 năm sau. Cũng có người bảo đây là là chuyện của một bài báo. Lại có người bảo đây là câu chuyện của một chiến thuyền Mỹ và nhóm thủy thủ trên đó. Có người còn bảo đây là câu chuyện của một dân tộc, thậm chí, của hai dân tộc.

Nhưng với tôi, đây là một câu chuyện tình. Trong câu chuyện này, hai người thiếu nữ, các thủy thủ, và cả đoàn người Việt Nam di tản tránh cộng sản, đều là những nhân vật được ràng buộc bằng một mối dây thắt chặt cả nhân loại.

Mối dây đó, là tình người.

.

Phần 1
Cuộc di tản vĩ đại của người Việt Nam – Ba mươi năm tìm một cô gái

Sau 30 tháng 4 năm 1975, một chiến thuyền Mỹ hộ tống một đoàn tàu hải quân Việt Nam Cộng Hòa mang 20,000 người tỵ nạn từ khu vực đảo Côn Sơn đến Subic Bay.

Trên chiếc tàu ấy, USS Kirk FF1087, có một sản phụ lúc đến nơi đã hạ sinh một em bé, và người sản phụ đã dùng tên “Kirk” vào đặt cho em bé gái, dù Kirk là tên con trai.

Câu chuyện lãng mạn trên là câu chuyện có thật, và thủy thủ đoàn chiến tàu USS Kirk ra sức tìm lại em bé trên để mời gia đình em cùng họp ngày hội ngộ thủy thủ đoàn. “Nghe đâu tên là Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” ông Jim Bongaard, một cựu thủy thủ về hưu với cấp bậc trung sĩ, thuật lại.

.

Công tác di tản

Vào thời gian cuối tháng Tư 1975, hạm trưởng khu trục hạm USS Kirk FF1087 (chữ FF viết tắt “fast frigate”) là trung tá Paul H. Jacobs. Sau này ông Jacobs về hưu với cấp bậc đại tá. Ông kể lại tình trạng di tản hỗn loạn trong ngày đó:

“Chúng tôi thuộc Hạm đội 7, lúc thời gian cuối tháng Tư, khoảng ngày 25, chúng tôi thả neo ngoài cửa sông, cách Sài Gòn khoảng 5000 mét. Nhiệm vụ của chúng tôi là hỗ trợ hỏa lực cho Tòa Đại sứ Mỹ nếu cần. Lúc bấy giờ rất nhiều phi công Việt Nam lái trực thăng chở người di tản đậu trên tàu USS Kirk.” Nhưng người ta không chỉ bay ra thôi, có người còn muốn bay về. “Có người bay ra trên một trực thăng. Rồi khi thấy chiếc trực thăng sau đó tới thì lại muốn trở về. Tâm trạng người ta lúc đó cũng hoang mang lắm,” ông Jacobs nói.

Một chiếc trực thăng vỡ tung khi thả xuống biển. Có thể đây chính là chiếc trực thăng được đại úy Hugh Doyle kể lại. (Hình: trích Kỷ Yếu USS Kirk 1975)

Từng chiếc trực thăng đáp xuống USS Kirk. Mặc dầu đây là những trực thăng thiết kế để đáp xuống đất chứ không phải xuống một khu trục hạm, và mặc dù hầu như chắc chắn các phi công không hề được huấn luyện đáp xuống tàu, nhưng các trực thăng đều đáp an toàn. Thủy thủ trên tàu soát người trên trực thăng để chắc chắn không mang vũ khí hay hàng cấm, rồi dẫn vào bên trong. “Trên chiếc trực thăng đầu tiên là một ông Thiếu Tướng. Tôi nhường giường tôi cho ông ấy, ông ta mệt lử ngủ 3 ngày sau mới dậy,” hạm trưởng Jacobs nhớ lại.

Một trực thăng, hai trực thăng, ba trực thăng, boong tàu bắt đầu chật. Thủy thủ đoàn phải xô bớt trực thăng xuống biển để có chỗ đậu những chiếc kế. Chiếc trực thăng thứ 13, một chiếc CH-47, quá lớn, không đậu xuống khu trục hạm được. Phi công bay là là phía trên boong tàu để hành khách nhảy xuống những vòng tay đỡ ở dưới. Khi mọi người đã xuống, phi công bay ra xa một chút, nhảy ra ngoài và cho trực thăng rớt xuống biển. Một nhóm thủy thủ từ USS Kirk nhảy xuống, bơi ra, vớt ông lên.

Ông Hugh J. Doyle, lúc đó là đại úy kỹ sư trưởng, thâu một đoạn băng cassette gửi về cho vợ ở Mỹ, kể lại việc một phi công Việt Nam đã rất khéo léo cho máy bay mình rớt xuống biển mà cá nhân người phi công cũng an toàn – vì nếu không khéo, khi trực thăng rớt trúng mặt nước vỡ tung ra, sẽ có thể làm phi công bị thương:

“Viên phi công của chiếc Chinook cũng bảo phi công phụ hãy nhảy xuống tàu, và bây giờ em hãy hình dung như sau: người phi công chỉ còn một mình trên trực thăng – anh chàng Việt Nam nhỏ nhắn này điều khiển chiếc máy bay to lớn, với hai động cơ và hai chong chóng phía trước và phía sau, và từ từ bay ra cách sườn tàu khoảng một trăm yard. Rồi anh ta cho chiếc Chinook bay đứng tại chỗ rất gần mặt nước, và bắt đầu cố gắng cởi tất cả y phục, trừ chiếc quần lót – anh ta làm như vậy trong khi vẫn một mình điều khiển cho chiếc trực thăng bay đứng tại chỗ mà không có phi công phụ trợ giúp.

“Trong khi anh ta bay chiếc trực thăng to lớn này chỉ cách mặt nước vài feet, anh ta cởi tất cả y phục ra, liệng quần áo ra khỏi cửa sổ buồng lái, phía bên trái của máy bay, rồi anh ta leo ra ngoài cửa sổ. Không biết bằng cách nào anh ta còn giữ được hai cái cần điều khiển của trực thăng, anh ta điều khiển cho máy bay nghiêng sang phía bên phải, trong khi nó vẫn còn bay đứng tại chỗ, rồi anh ta nhảy sang phía bên trái, lao ra khỏi phòng lái và nhào xuống nước. Thật là kỳ diệu!

“Trong khi đó chiếc trực thăng rớt xuống xuống biển ở phía bên phải, cách xa người phi công đang bơi. Hai cánh quạt của nó hầu như nổ tung khi chúng chạm mặt nước. Ðộng cơ ngừng chạy, mũi chiếc trực thăng chúi xuống và từ từ chìm xuống biển, cách tàu của tụi anh khoảng một trăm yard, trong một vũng dầu máy trào ra từ máy bay. Ðó là một màn biểu diễn tài điều khiển máy bay thật là khó có thể tin được.”

Nửa đêm 29 rạng ngày 30, một trực thăng thủy quân lục chiến Mỹ đậu hụt boong tàu, rớt xuống biển. May thay phi hành đoàn hai người đều được cứu thoát.

“Quý vị không thể tưởng tượng được, một chiếc tàu chiến và một nhóm thủy thủ chuyên nghề đánh giết, trong nháy mắt trở thành một chiếc tàu cứu trợ làm công tác nhân đạo, đó là điều tôi thấy cảm động nhất,” hạm trưởng Paul Jacobs nói. “Tôi thật sự xúc động khi thấy nhóm thủy thủ trẻ tuổi của tôi an ủi những người di tản, chia sẻ từng phần ăn uống, chỉ dẫn giúp đỡ những người bỡ ngỡ và buồn bã trên chiến hạm.”

“Một ngày đau buồn nhất của tất cả mọi người trong đoàn tàu.” Hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa bàn giao tàu chiến cho sĩ quan Mỹ để vào Subic Bay. Hạm trưởng Việt Nam trong hình là thiếu tá Phạm Đình San. (Hình: San Phạm cung cấp)

Khi được tin Sài Gòn thất thủ, chiếc USS Kirk đã rút ra ngoài 150 hải lý. Ông Bongaard nhớ lại, “Lúc đó trên tàu có đến 250 người Việt Nam. Chúng tôi chuyển họ qua tàu khác để chở đi Subic Bay. Một đợt trực thăng khác lại đến, nhóm này được chuyển qua tàu USS Okinawa.”

Ông Bongaard kể tiếp, “Lúc ra khỏi hải phận Việt Nam đang đi về phía Subic Bay, thì chúng tôi lại nhận được lệnh mới là đi về hướng đảo Côn Sơn. Thế là chúng tôi lại trở vào. Tại đây chúng tôi phối hợp với tàu Việt Nam di tản người tỵ nạn.”

.

Đường đến Subic Bay

Đến Côn Đảo, đoàn tàu Mỹ gặp đoàn tàu Việt Nam. “Lúc đó, phía bên Việt Nam có ông Tư Lệnh Hải Quân và một người phụ tá qua bên tàu chúng tôi, và cùng với phía chúng tôi sắp xếp để đưa tất cả số người này đi Subic Bay,” hạm trưởng Jacobs cho biết.

Vị Tư Lệnh Hải Quân này chính là cựu Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, người trở lại cầm đầu binh chủng Hải Quân chỉ trong hơn chục ngày cuối cùng. Ông kể với tôi: “Chúng tôi có một đoàn tàu 24 chiếc, tàu hải quân đủ loại. Đi từ cảng Sài Gòn, hẹn với tàu Mỹ tại Côn Sơn, rồi từ đó đi Subic Bay. Số người trên đoàn tàu vừa có các quân nhân, thủy thủ, gia đình, vừa có người dân thường, cả thảy tới khoảng 20 ngàn người.”

Lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng 5, đoàn tàu khởi hành. Chiếc tàu Tân Nam Việt gặp trục trặc máy móc, chiếc USS Kirk phái mười nhân viên qua phụ. Một số người được san từ tàu Việt Nam qua các tàu Military Sealift Command (tàu chở người) của Mỹ. Thực phẩm, nước uống, thuốc men, được đưa từ USS Kirk qua các tàu cùng đi.

“Tàu nào cũng đông người, may mà biển êm chứ nếu thời tiết xấu thì quả thật tôi không biết tổn thất sẽ đến bao nhiêu,” hạm trưởng Jacobs nhớ lại. Đô Đốc Cang cũng đồng ý, “Đoàn tàu đi bình yên, tới Subic Bay không trở ngại gì.”

Một số người bệnh, sản phụ, được đưa qua tài USS Kirk. Trong đó có một bé trai bị bệnh sưng phổi nặng. Bác sĩ chữa thì em khỏe hơn, lăng xăng đùa giỡn. Nhưng rồi em ốm lại. Sau 3 ngày, em qua đời. Hạm trưởng Jacbos thuật lại, “Chúng tôi tìm được gia đình em còn ở trên tàu Việt Nam, nhưng gia đình không muốn em phải chôn ngoài biển. Lúc ấy em mới 12 tuổi, nhà chỉ có em là con trai, nhưng chúng tôi không thể để em như thế được. Chúng tôi tổ chức an táng theo đúng nghi lễ quân đội và đã chôn em ngoài khơi. Gia đình em xúc động với việc chúng tôi làm, chính tôi cũng rất buồn khi em qua đời trên đường tỵ nạn.”

Đoàn tàu đến hải phận Philippines, định vào Subic Bay thì chính quyền sở tại không cho vào. “Lúc đó ông Marcos không nhận tàu Việt Nam,” Đô Đốc Cang nhớ lại. Hàng chục ngàn người tỵ nạn trên tàu, mà không có chỗ đậu, thì phải làm sao?

Tướng Cang bèn phải giải quyết tại chỗ: “Tụi tôi điều đình với đại diện Hạm đội 7, để trao tàu cho họ. Tôi nói họ là ‘Quân cụ này chúng tôi không dùng nữa, nay trao trả lại cho Mỹ.” Hạm trưởng Jacobs nhận những chiến hạm này. “Tôi đồng ý với vị Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam là phải giải quyết bằng cách thay cờ, treo cờ Mỹ để chính thức đi vào căn cứ Mỹ.”

Đúng 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5, đoàn tàu làm lễ hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa, dựng cờ Hoa Kỳ. Hạm trưởng Jacobs phái qua mỗi tàu một sĩ quan để nhận bàn giao quyền hành. Giây phút khai tử của đoàn tàu Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn in sâu trong lòng các quân nhân cũng như những người dân có mặt. Đô Đốc Cang còn ngậm ngùi khi kể lại, “Lúc hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa là một ngày đau buồn nhất của tất cả mọi người trong đoàn tàu.”

Trên chiếc hộ tống hạm Chí Linh, thủy thủ đoàn phải vứt bỏ súng đạn để được chính quyền Philippines cho phép vào hải phận. (Hình: San Phạm cung cấp)

.

Sản phụ trên tàu chiến và một cô gái tên “Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên”

Trong số người được đưa qua USS Kirk có 6 sản phụ, được đưa vào phòng nghỉ của các sĩ quan. Nhớ lại việc này, hạm trưởng Jacobs cho biết, “Phải hiểu rằng thủy thủ đoàn của tôi lúc đó toàn những thanh niên trẻ, 18, 19 tuổi. Thế mà họ chăm sóc được cho các sản phụ, lo cho họ ăn, lo cho họ tắm rửa, lo chuyện giặt giũ, quần áo.”

Đến Subic Bay, mọi người xuống, chia tay người tỵ nạn. Hạm trưởng Jacobs nhớ lại, “Thủy thủ thì quý vị biết rồi, tiền bạc không có bao nhiêu, lâu lâu mới được lên bờ, vậy mà họ dốc hết tiền, vào chợ quân tiếp vụ (Naval Exchange) có bao nhiêu đồ chơi mua hết phát cho các cháu bé. Chuyến chở người tỵ nạn thật là một sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến các thanh niên tuổi còn rất nhỏ.”

Một bé gái tỵ nạn trong chiếc lều dựng tạm trên tàu USS Kirk. (Hình: James Bongaard)

Các sản phụ cũng được chuyển vào căn cứ tại Subic Bay. Sau này, thủy thủ đoàn khám phá ra được rằng một trong số các sản phụ – họ không biết là trong những người đến theo tàu, hoặc đã đến trước đó sau khi chuyển qua các tàu khác – đã hạ sanh một em bé, và bà mẹ đã dùng tên tàu “Kirk” đặt trong tên con mình.

Ông Bongaard cho tôi biết, “Khi biết tin này, tất cả chúng tôi rất vui mừng, hãnh diện, và cảm động.” Và theo ông, “chúng tôi tìm được một bức thư theo đó chúng tôi khám phá ra rằng cô gái này mang tên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên.”

Theo tính toán của thủy thủ đoàn, cô gái tên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên sinh tháng 5 năm 1975, năm nay 30 tuổi. Họ bèn gửi một bức thư đi để hỏi tông tích cô này. Một người bạn Việt Nam của ông Bongaard giúp họ dịch bức thứ ấy qua tiếng Việt, tựa đề “Làm ơn tìm giúp một người bạn của chúng tôi: Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên.” Bức thư có đoạn:

“Thủy thủ đoàn của chiếc USS Kirk cho đến ngày hôm nay còn giữ mối thân tình với dân chúng miền Nam Việt Nam cũng như vẫn tự hào về những cố gắng cứu trợ dân sự của mình…. Hôm nay, thủy thủ đoàn USS Kirk muốn tìm kiếm đứa con tinh thần của mình.”

Hầu hết những thủy thủ trên tàu đều đã giải ngũ, không còn trong quân đội. Những ngày của chiến tranh qua đi, của thời trẻ cũng qua đi. Ngay cả chiếc tàu chiến USS Kirk oai phong ngày nào cũng đã giải giới, không còn phục vụ nữa từ năm 1993. Chỉ còn lại những kỷ niệm và một chút thương nhớ về một cô gái mang tên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên mà họ đang tìm.

(còn tiếp)

This entry was posted in Bài trên báo and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s