Báo chí và Đại tướng

Sơ đồ này coi bộ ăn khách trên Facebook tớ.  Bản này có khác bản FB một chút.

Bao chi VN wp

Chuyện tướng Giáp và Điện Biên Phủ

1.

Có người chê chiến thắng Điện Biên là một cuộc “nướng quân” – nhất tướng công thành vạn cốt khô. Tớ không đồng ý với nhận định đấy.

Để so sánh, trong Hell in a Very Small Place của sử gia Bernard Fall, có một chi tiết là vì bi bao vây và mất đường tiếp tế, trong những ngày trước khi quân Việt Minh tràn vào, Pháp bị thiệt mạng mất 1,037 người trong những cuộc hành quân ra ngoài vành đai, mà chả được kết quả gì.

(Trước khi in sách, Bernard Fall có viết một bài báo, cũng khá nhiều chi tiết, các bác có thể đọc ở đây. Ông bảo: “By the time the battle started in earnest on March 13, 1954, the garrison already had suffered 1,037 casualties without any tangible result.”)

Vậy cái đó có kể là “nướng quân” không?

2.

Trận Điện Biên không phải thắng vì nướng quân. Bernard Fall và hầu hết mọi nhà phân tích khác đến sau ông (thí dụ), đều cho rằng Pháp thua vì Pháp không ngờ Việt Minh mang được pháo lên tới sườn núi, vậy mà họ đã làm được.

Quân số Việt Minh tại Điện Biên Phủ đông gấp nhiều lần quân Pháp. Đó là vì phía Việt Minh nhận định (đúng) rằng thắng Điện Biên là thắng tất cả, nên trong tay có bao nhiêu quân đem ra xài hết. (Tư duy đó không xa lắm so với Chủ thuyết Powell trong chiến tranh Kuwait là phe ta phải áp đảo phe địch thì mới đánh.)

Có rất nhiều người chết, bị thương, trong trận này, tất nhiên. Bên Pháp chết và bị thương ước lượng từ 6,700 tới 8,900 người. Bên Việt Minh chết và bị thương 13,000 người theo con số của VM và 23,000 theo ước tính của phía Pháp. Nếu tin vào con số của Pháp, tỷ lệ là 3:1.  Tỷ lệ này không phải là nặng, nhất là nếu so sánh với các trận đánh khác trong suốt 100 năm chống Pháp.

Trận Ba Đình khi Pháp tấn công lực lượng của Đinh Công Tráng, chẳng hạn, được sách Pháp ghi lại là hàng ngàn quân khởi nghĩa thiệt mạng, phía Pháp mất 19 người chết, 45 bị thương.

Trận Tuyên Quang, Lưu Vĩnh Phúc tấn công đồn Pháp, phe Pháp chết 50, bị thương 224, trong khi phía quân Cờ Đen và lính nhà Thanh chết tới 1000 và bị thương 2000. Và Cờ Đen thua.

Các trận đánh khác cũng chắc cỡ vậy, nhưng số liệu thì không rõ vì sử Việt không ghi số người khởi nghĩa bị giết. Thí vụ trong trận Phan Đình Phùng đánh Vụ Quang, sử Việt Nam ghi lại là giết 100 giặc Pháp, nhưng không ghi số thiệt mạng của phe nghĩa quân.

Với lịch sử như vậy, nên chuyện hy sinh ở Điện Biên Phủ, và những câu trả lời phỏng vấn của tướng Giáp kiểu “tôi không hối hận” phải nhìn dưới góc độ tinh thần của kháng chiến khi đó.

Thêm nữa, tất cả những binh lính, dân công này đều là người tình nguyện, không có nghĩa vụ quân sự, không có bắt lính quân dịch. Rất nhiều người trong số họ con nhà khá giả, có học (và cũng vì vậy nhiều người trong số họ sau đó là nạn nhân Cải cách ruộng đất). Tớ đồ rằng khá đông người trong số họ hiểu tinh thần Nguyễn Thái Học là “không thành công thì cũng thành nhân.”

Cho nên, chuyện hy sinh 3 đổi 1, ngay cả nếu đúng như phía Pháp nói vậy, không những không phải là con số chênh lệch lớn, mà là con số xưa này các trận nghĩa đánh Tây đều như vậy, và cũng là con số chính những người lính đó hiểu và chấp nhận.

Hoàn cảnh như thế, không thể gọi là chuyện “nướng quân” được.

Read more of this post

(Kỳ 2 & hết) Tài liệu CIA: Sau cái chết Nguyễn Chí Thanh

LGT. Đây là phần thứ nhì bản dịch tài liệu của CIA, đóng dấu Mật (“Secret”), đề ngày 11 tháng 7, 1967, và được bạch hóa vào tháng 1, 2001. Tài liệu mang tựa đề “Những khó khăn cho Bắc Việt sau cái chết của ủy viên bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh.”

Trong kỳ 1, đã đăng phần “Tóm tắt” và các đoạn đánh số từ 1 tới 8. Kỳ này tiếp tục từ đoạn đánh số 9 cho tới kết.

Bài này được đưa lên blog này làm 2 kỳ. Trên báo, bài này được đăng trọn một lần trên tuần báo Viet Tide, xuất bản tại Quận Cam (California) và Houston (Texas) số đề ngày 23 tháng 1, 2009.

Vũ Quí Hạo Nhiên

(Tiếp theo kỳ trước)

Ghế trống trong bộ chính trị

9. Cái chết của Thanh không những gây khó khăn liên quan đến vị trí hàng đầu tại miền Nam Việt Nam, mà cũng đặt vấn đề về việc thay thế ông trong bộ chính trị. Đây là lần đầu tiên kể từ 1960 hay trước nữa, có chỗ trong trong cơ quan đầu não của đảng. Sự nghiệp của Thanh trong 10 năm qua liên hệ rất chặt chẽ với Lê Duẩn – nhân vật thứ nhì trong đảng [sau Hồ Chí Minh] và lãnh tụ khối cực đoan trong hàng lãnh đạo Bắc Việt. Nguyễn Chí Thanh được thăng cấp đại tướng vào cuối thập niên 1950 ngay sau khi Lê Duẩn được lên hàng thứ nhì trong bộ chính trị. Thanh bị dời khỏi chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội năm 1961 – dường như sau khi bất đồng ý kiến với Bộ trưởng Quốc phòng Giáp. [Khi đó tướng Thanh bị điều sang làm Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương.] Giáp lập luận là cần xây dựng một lực lượng quân sự chuyên nghiệp nhưng Thanh muốn dùng quân đội làm một lực lượng chính trị và kinh tế để cải tạo xã hội, nhất là trong nông nghiệp. Vấn đề được giải quyết theo hướng của Giáp, ít ra là trong việc Thanh bị cất khỏi Tổng cục Chính trị Quân đội. Hai năm sau, Thanh tái xuất hiện trong luồng chính của đảng, trong vai trò mũi nhọn cho một trong những chính sách của Lê Duẩn: Sự xê dịch ra khỏi lập trường cũ của Bắc Việt đứng trung lập trong cuộc tranh chấp Trung – Xô và thay vào đó nghiêng hẳn về phía ủng hộ Bắc Kinh. Mặc dù cuối cùng thì gần như tất cả bộ chính trị đều công khai đồng ý, có thể với sự dè dặt, với đường lối này, Nguyễn Chí Thanh là người đầu tiên và bộc trực nhất khi dùng những lời lẽ khiếm nhã của Trung Quốc để phê phán Liên Xô “xét lại.”

10. Những sự bất đồng ngăn cách trong nhiều năm qua giữa Giáp và Nguyễn Chí Thanh được tin là cũng phản ảnh sự bất đồng căn bản bên trong bộ chính trị Bắc Việt. Cái chết của Thanh có thể nhấn mạnh những bất đồng này hơn. Nếu giới lãnh đạo muốn thay thế ông này ngay bây giờ, phía tướng Giáp và những người suy nghĩ giống ông sẽ muốn đề cử một người có đường lối ôn hòa và thực tế giống họ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người phát ngôn chính của nhóm này và trong hai năm qua có vẻ đã gom về mình được nhiều hậu thuẫn thay vì Lê Duẩn. Ngược lại, Lê Duẩn nắm chức vụ quan trọng bí thư thứ nhất của đảng và ông sẽ muốn thay Thanh bằng một người cứng rắn khác ông có thể tin tưởng được.

11. Nếu Thanh không được thay thế ngay, ghế trống của ông có thể ảnh hưởng tới cán cân trong bộ chính trị hiện đang tương đối quân bình. Khi Thanh còn sống, bộ chính trị 11 người chắc hẳn chia đều giữa hai phía với năm người cứng rắn, năm người ôn hòa và Hồ Chí Minh đứng trên làm trọng tài. Mặc dù không phải trong vấn đề nào bộ chính trị cũng phân chia như vậy, nhưng chắc rằng sự phân chia đó là tiêu biểu trong những quyết định quan trọng của giới lãnh đạo trong vận mệnh quốc gia.

12. Bộ chính trị cũng có thể được tăng cường thêm một hoặc nhiều ủy viên. Ủy viên dự khuyết Văn Tiến Dũng là nhân vật chính có thể được nâng lên hàng chính thức trong bộ chính trị. Tuy nhiên, tướng Dũng được xem là người của tướng Giáp, và việc ông là một quân nhân chuyên nghiệp có thể sẽ bất lợi cho ông. Đảng không muốn đè nặng bộ chính trị với quá nhiều nhân vật trong quân đội.

Read more of this post

Hồ sơ CIA: Chính trị miền Bắc sau cái chết Nguyễn Chí Thanh

(Bài đăng Viet Tide số ra ngày 23 tháng 1, 2009. Hồi trước cũng post blog 360 rồi.)

Tài liệu mật CIA được bạch hóa

Những khó khăn cho Bắc Việt sau cái chết của Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh

Vũ Quí Hạo Nhiên

LGT. Xin giới thiệu với độc giả Viet Tide bản dịch tài liệu mật của CIA. Tài liệu được đóng dấu Mật (“Secret”), đề ngày 11 tháng 7, 1967, và được bạch hóa vào tháng 1, 2001. Đây là một tài liệu quý giá phản ánh nguồn thông tin của các viên chức cao cấp của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam. Biết được những điều này, sẽ góp phần giải thích và làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn đến những quyết định của Hoa Kỳ trong thời đó.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là tài liệu của CIA không nhất thiết phải là chính sách hoặc nhãn quan chính thức của Hoa Kỳ. Tình báo CIA chỉ là một trong nhiều nguồn thông tin, bên cạnh thông tin từ tình báo các ngành quân đội cũng như của Bộ Ngoại giao, chưa kể những nguồn rỉ tai riêng của các viên chức cao cấp.

Trong bản dịch này, những lời trong dấu ngoặc vuông [ … ] là chú thích thêm của dịch giả.

* * *

Cơ quan Tình báo Trung ương
Cục Tình báo
11 tháng 7, 1967

Bản thông tin tình báo

Những khó khăn cho Bắc Việt sau cái chết của ủy viên bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh

Tóm tắt

Cái chết của Nguyễn Chí Thanh tại Hà Nội vì cơn đau tim ngày 6 tháng 7 [năm 1967] dẫn đến hai vấn đề quan trọng và cấp thời cho mười nhân vật còn lại trong bộ chính trị và có thể có hậu quả lâu dài và sâu xa cho giới lãnh đạo đảng. Vấn đề cấp thời nhất cho những lãnh tụ Hà Nội là phải thay thế ông Thanh trong cả hai chức vụ: người cầm đầu bộ máy cộng sản tại miền nam Việt Nam và là thành viên chính thức bộ chính trị. Việc thay thế ông Thanh trong hai chức vụ này có thể sẽ châm ngòi cho việc giằng co bên trong bộ chính trị giữa phe cực đoan và phe hơi ôn hòa hơn một chút. Phe cực đoan, dẫn đầu là bí thư thứ nhất Lê Duẩn, sẽ muốn cử người của mình vào thay ông Thanh. Phe ôn hòa hơn, dẫn đầu là Phạm Văn ĐồngVõ Nguyên Giáp, cũng có thể muốn đưa người của mình vào thay ông này hoặc ít ra là cũng chia các chức vụ của ông Thanh ra cho nhiều người, qua đó làm giảm sức mạnh của phe cực đoan.

Lai lịch Nguyễn Chí Thanh

1. Với cả lai lịch quân sự lẫn kinh nghiệm chính trị, ông Nguyễn Chí Thanh là người khó có thể thay thế. Ông là người duy nhất ngoài Đại tướng Võ Nguyên Giáp mang quân hàm đại tướng trong quân đội, và ông là một nhân vật đứng đầu trong nhóm cực đoan của bộ chính trị Bắc Việt. Ông cũng nắm một chức vụ then chốt trong ban bí thư đảng chịu trách nhiệm thực thi đường lối của đảng. Là ủy viên Hội đồng Quốc phòng của đảng, ông cũng có tiếng nói trong việc điều hành quân đội. Từ đầu năm 1965 Thanh là nhân vật số một tại Trung ương Cục miền Nam (COSVN [viết tắt theo tiếng Anh Central Office for South Vietnam]), cơ quan đầu não về chính trị và quân sự cho phiến quân cộng sản tại Nam Việt Nam.

2. Trong hai năm rưỡi công tác tại miền Nam, Thanh được cho là đã có quyền quyết định về cả việc hoạch định cũng như thi hành chiến lược và triển khai lực lượng cộng sản, chỉ chịu sự xét lại của toàn thể bộ chính trị ở Hà Nội. Việc điều động ông Thanh vào COSVN đầu năm 1965 chắc hẳn là kết quả sự lạc quan của Hà Nội tin rằng chỉ cần một cuộc tấn công mạnh chống ARVN [viết tắt của Army of the Republic of Vietnam tức QLVNCH] là cuộc cách mạng của họ sẽ thành công. Giới lãnh đạo tại Hà Nội muốn một người của họ có mặt tại chỗ để thực hiện cuộc tấn công này và đồng thời có thể thay mặt bộ chính trị trong những tiến triển chính trị sau đó.

3. Người chọn Thanh cho vị trí này dường như là chính bí thư thứ nhất Lê Duẩn – nhân vật chính yếu đã hoạch địch chiến lược trong miền Nam. Thanh có đủ cấp bậc chính trị để chỉ huy chiến dịch này; ông có dày dặn kinh nghiệm quân sự với tư cách cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội, ông mang quân hàm cao nhất của nước, và ông có tư duy giống Lê Duẩn là chọn giải pháp quân sự và mạnh mẽ cho những khó khăn lớn.

Read more of this post

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 3,126 other followers

%d bloggers like this: