Cực đoan tư nhân và cực đoan nhà nước

Biểu tình chống đêm nhạc Trịnh Công Sơn, tại Garden Grove tháng 3, 2008. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)

Hôm tôi mới mất việc ở báo Người Việt, một bạn lên Facebook hỏi một câu thế này:

“Thầy ui, có thành lập mặt trận đấu tranh tự do báo chí cho báo chí tiếng Việt ở Mỹ không Thầy ui?”

Ý của bạn ấy chắc hẳn là blogger trong nước bị cộng sản đàn áp mình lập mặt trận đấu tranh cho họ, thì nay báo chí tiếng Việt ở Mỹ bị những người giống cộng sản đàn áp mình cũng lập mặt trận đấu tranh.

Bạn ấy nói thế vì chỉ mới nhìn thấy mặt nổi của vấn đề, là nhũng đám người cộng-sản và giống-cộng-sản uy hiếp tự do ngôn luận. Điều đó đúng, nhưng nhu cầu lập một “mặt trận tranh đấu” thì ở hai chỗ lại không giống nhau. Vì tuy cực đoan ở đâu cũng gần như nhau, có sự khác nhau rất lớn giữa cực đoan có cầm quyền, như chính phủ Việt Nam, và cực đoan không cầm quyền, như một nhóm người ở Bolsa.

Sụ khác biệt đó nằm ở cái quyền. Khi cực đoan cầm-quyền mà ra tay, thì có người đi tù. Khi cực đoan không-cầm-quyền mà ra tay, thì kết quả là tùy mình. Mình đầu hàng cái tay chém gió đó, thì nhóm cực đoan này mới có ảnh hưởng. Nhưng ngược lại, cái nguy hiểm là tự dưng trao quyền cho nhóm cực đoan, thì, y như chính quyền cộng sản, họ sẽ lấn tới gây thiệt hại cho cả cộng đồng. Đó là những ý tôi triển khai trong bài blog này.

Read more of this post

Ðại sứ Mỹ từng kẹt 8 tháng vì 16 em bé Bạc Liêu

Em Gabriel (giữa) chụp hình với các bạn và tấm hình của em chụp trước đây, là tấm hình cha mẹ nuôi em đang giữ bên Mỹ cùng hy vọng có ngày sum họp với em. Ðể áp lực Bộ Ngoại Giao đặt áp lực lên Việt Nam giải quyết cho các em đoàn tụ, nhiều thượng nghị sĩ liên bang thay phiên nhau chặn đứng việc bổ nhiệm ông David Shear làm đại sứ tại Hà Nội. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Vũ Quí Hạo Nhiên & Trần Tiến Dũng/Người Việt
(Bài đăng báo 14/8/2011)

BẠC LIÊU (NV) – Em bé trong cô nhi viện ở Bạc Liêu giơ tay ra nhận quà từ người khách xa lạ. Một hộp sữa, một gói bánh, cây kẹo. Các bạn em cũng mỗi em một phần quà.

Người khách còn mang theo 3 tấm hình của 3 em trong số này. Mỗi em tò mò nhìn hình của chính mình, chụp 2-3 năm trước.

Ba tấm hình đó là một phần của mối dây liên kết giữa các em với cha mẹ nuôi bên kia quả địa cầu. Cha mẹ em đang mong các em được qua Mỹ, để các em được yêu thương, được chăm sóc, được nằm trong vòng tay gia đình.

Các em chắc không biết các em đã có tên Mỹ: Em Nate, em Lincoln, em Gabriel.

Và các em chắc không biết là chính vì các em chưa được đi Mỹ, nên vị đại sứ Mỹ tại Việt Nam bị kẹt 8 tháng không được đi Hà Nội.

.

Chạy đua cùng ‘hiệp ước’

.

Ở tiểu bang Indiana có 3 gia đình đang chờ các em, là các cặp vợ chồng Nick và Lori LeRoy; John và Courtney Cowley; và Chris và Marla Laystrom.

Ðầu năm 2007, hai vợ chồng Chris và Marla Laystrom tìm đến một dịch vụ tìm con nuôi. Họ điền đơn, được giao cho một sấp tài liệu để học về cách nuôi con nuôi đến từ ngoại quốc. Tới tháng 3 năm 2007, họ làm xong giấy tờ và cũng học xong khóa học, thì hồ sơ được chuyển qua Việt Nam vào tháng 7, 2007.

Marla cho báo Người Việt biết, ngay từ lúc đó, “Chúng tôi đã biết là hiệp ước song phương về con nuôi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sắp hết hạn vào tháng 9 năm 2008 và chúng tôi rất sợ là sẽ không được giới thiệu con nuôi trước thời điểm đó.”

Ngày mà hai vợ chồng Chris và Marla Laystrom được tin họ sẽ có con nuôi, là ngày 1 tháng 8 năm 2008. Tới bây giờ Marla vẫn nhớ ngày đó. “Chúng tôi được tin chúng tôi được ghép với một em bé trai rất dễ thương đẹp đẽ, 6 tháng tuổi.”

“Lần đầu tiên thấy hình em bé, tim tôi như vỡ ra,” Marla kể lại. “Chúng tôi yêu cháu và từ lúc đó trở đi, cháu là con chúng tôi.”

Chris và Marla đặt tên cho em là Gabriel.

Read more of this post

Osama Bin Laden bị hạ sát, thi thể trong tay quân đội Mỹ

Tin đăng trên báo Người Việt, ở đây.

Vũ Quí Hạo Nhiên (tổng hợp)

Osama bin Laden ở Afghanistan năm 1998. (Hình: AP Photo/Mazhar Ali Khan)

WASHINGTON DC (NV) – Trùm khủng bố Osama bin Laden, chủ mưu vụ tấn công vào nước Mỹ ngày 11 tháng 9, 2001, bị hạ sát trong một cuộc hành quân của Hoa Kỳ tại Pakistan và thi thể ông bin Laden hiện đang trong tay quân đội Hoa Kỳ.

Tổng Thống Barack Obama loan báo tin này với cử tọa truyền hình trong toàn quốc và cả trên thế giới trong một diễn văn đọc vào tối khuya Chủ Nhật.

“Tối nay, tôi có thể báo với người dân Mỹ và thế giới rằng Hoa Kỳ đã thực hiện một chiến dịch và hạ sát Osama bin Laden,” Tổng Thống Obama nói.

Tổng Thống Obama cho biết quân đội Hoa Kỳ tấn công vào nơi trú ẩn của bin Laden ở Pakistan và hạ sát ông này.

Tổng Thống Obama tiết lộ lần đầu tiên có dấu hiệu tìm thấy bin Laden ở khu nhà này là vào tháng 8 năm 2010. Phải tới tuần trước, khi đã đủ tin tức để biết chắc chắn vị trí của bin Laden, Tổng Thống Obama ra lệnh cho các lực lượng quân đội và tình báo tiến hành cuộc tấn công.

Cuộc tấn công diễn ra tại Abadabad, Pakistan. “Không người Mỹ nào bị tổn thương, toán quân cố gắng tránh thiệt hại cho thường dân. Sau một trận đọ súng, toán quân hạ sát được bin Laden, và chiếm được thi thể ông này.”

“Công lý đã đến,” Tổng Thống Obama nói.

Ông trấn an thế giới Hồi Giáo: “Hoa Kỳ chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ, tuyên chiến với đạo Hồi. Bin Laden không phải là một lãnh tụ Hồi Giáo, ông ta là một kẻ sát nhân giết nạn nhân Hồi Giáo.”

Bên ngoài Tòa Bạch Ốc, người dân tụ tập mừng vui reo hò, chung nhau hát bài quốc ca “The Star-Spangled Banner” và bài hát của ban nhạc Queen: “We Are the Champions.”

Cựu Tổng Thống George W. Bush công bố bản văn chúc mừng Tổng Thống Obama, quân đội và tình báo Hoa Kỳ, và nói ông rất vui mừng với thành quả này.

Osama bin Laden, xuất thân trong một gia đình tỷ phú Saudi Arabia, là thủ lãnh và người sáng lập tổ chức al-Qaeda. Ngày 11 tháng 9, 2001, quân khủng bố trong tổ chức al-Qaeda cướp 4 máy bay dân sự và lái 4 máy bay này vào hai tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, và Ngũ Giác Ðài ở Washington D.C., và một chiếc thứ tư bị rớt ở Pennsylvania sau khi hành khách chuyến bay UA 93 phản công chống lại kẻ cướp máy bay.

Cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 giết chết 2,974 nạn nhân cùng với 19 kẻ cướp máy bay. Mặc dù lúc đầu chối bỏ trách nhiệm, tới năm 2004, Osama bin Laden công bố một băng video xác nhận chính ông là người đích thân điều khiển vụ khủng bố.

Bên ngoài Tòa Bạch Ốc, mặc dù đã gần nửa đêm giờ địa phương, đám đông tụ tập vui vẻ hò reo. (Hình: AP Photo/ Mazhar Ali Khan)

Sau vụ khủng bố, Tổng Thống George W. Bush ra tối hậu thư đòi chính quyền Taliban của Afghanistan phải giao nộp bin Laden. Khi chính quyền này từ chối và bao che, Hoa Kỳ tấn công Afghanistan vào tháng 10 năm 2001, bắt đầu cuộc chiến Afghanistan kéo dài 10 năm nay.

Sau khi Hoa Kỳ tấn công vào Afghanistan và lật đổ chính quyền Taliban, Osama bin Laden trốn đi và tiếp tục điều khiển tổ chức al-Qaeda và một lực lượng du kích địa phương từ một căn cứ, được cho là ở vùng núi hiểm trở dọc biên giới Afghanistan và Pakistan.

Không chỉ có vụ tấn công 11 tháng 9, Osama bin Laden từng chủ mưu nhiều vụ khủng bố khác. Năm 1998, al-Qaeda tấn đánh bom cùng lúc hai tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Tanzania và Kenya, làm thiệt mạng 231 nạn nhân. Năm 2000, al-Qaeda tấn công chiến hạm USS Cole, giết chết 17 thủy thủ Hoa Kỳ tại Yemen.

Sau vụ 11 tháng 9, tin tức được tiết lộ cho biết ngay từ thời Tổng Thống Clinton, chính phủ Hoa Kỳ đã cố gắng bắt hoặc giết bin Laden. Sau vụ tấn công tòa đại sứ, Tổng Thống Clinton từng ký lệnh truy nã cho phép CIA bắt bin Laden mang về Mỹ truy tố, và nếu không thể bắt sống được, lệnh này cho phép dùng phương tiện chết người để hạ sát.

Cái chết của bin Laden diễn ra 2 tháng trước khi quân đội Mỹ bắt đầu rút khỏi Afghanistan.

Ðặt tên ‘Thăng Long’: Ðòn tuyên truyền chính trị của Lý Thái Tổ? (phần 2)

Cổng chùa Cổ Pháp, nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời bé, nay thuộc làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. (Hình: BinhGiang/Wikimedia/Public Domain)

Vũ Quí Hạo Nhiên
Bài đăng báo Người Việt, Xuân 2010
Tiếp từ phần 1

Hoa Lư không phải gốc quyền lực của nhà Lý

Hoa Lư là kinh đô nhà Ðinh. Vua Ðinh Tiên Hoàng chọn nơi đó làm kinh đô vì đó là quê của ông. Chúng ta nghe chuyện vua Ðinh thời nhỏ tụ tập trẻ chăn trâu lấy cờ lau tập trận, tất cả những chuyện đó diễn ra ở Hoa Lư. Vì vậy, sau khi dẹp tan nạn Thập nhị Sứ quân, Ðinh Tiên Hoàng về lại quê cũ đóng đô.

Lê Hoàn, khi chiếm ngôi vua của nhà Ðinh, không dời đô mà đóng luôn tại đó, chắc chắn một phần là vì Hoa Lư đã xây dựng đâu ra đấy rồi, phần khác chắn hẳn là vì Hoa Lư cũng không xa xôi gì quê Lê Hoàn.

Sử có viết khác nhau về quê quán Lê Hoàn, nhưng tất cả đều loanh quanh gần Hoa Lư. Ðại Việt Sử Ký Toàn ThưLịch Triều Hiến Chương Loại Chí cho rằng Lê Hoàn là người Ái Châu, tức Thanh Hóa ngày nay, ngay phía nam Hoa Lư. Khâm Ðịnh Việt SửViệt Sử Tiêu Án thì ghi: “Lê Hoàn quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm” – thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay. Hà Nam nằm ngay phía bắc Hoa Lư.

Nhà Lý thì khác, quê ở xa. Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, Bắc Giang, nay thuộc làng Ðình Bảng tỉnh Bắc Ninh. Ðồng minh của Lý Công Uẩn là giới sư sãi Phật Giáo. Ông lúc trẻ tu tập trong chùa Lục Tổ, còn gọi là chùa Cổ Pháp, và qua đó kết thân với Sư Vạn Hạnh.

Sư Vạn Hạnh là một nhân vật rất quan trọng. Cũng xuất phát từ chùa Lục Tổ như Lý Công Uẩn, Sư Vạn Hạnh được xem như một vị Phật sống của thời đó. Vua Lê Ðại Hành tôn ngài làm Quốc Sư. Nhưng ngài lại thân với Lý Công Uẩn. Nhân có cây bông gạo bị sét đánh, Sư Vạn Hạnh đọc vết cháy thành một bài văn, diễn giải thành việc Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi, và xúi giục Lý Công Uẩn lên làm vua.

Việc đó chứng tỏ đạo Phật đối với Lý Công Uẩn không chỉ là tín ngưỡng, mà giới sư tăng còn là nguồn hậu thuẫn nữa, nhất là sư tăng của thiền phái Lục Tổ Thiền Ông, mà chùa tổ tọa lạc tại Cổ Pháp tức Bắc Ninh. Ðiều này cũng giải thích được vì sao Lý Thái Tổ hỗ trợ cho đạo Phật rất nhiều. Mới dời đô, chưa kịp xây kinh thành, vua đã “phát tiền kho 2 vạn quan” thuê thơ xây 8 chùa ở Cổ Pháp. Vì lòng thành tín một phần, nhưng chắc chắn phần nữa là để gia tăng thế lực của phe mình.

Sân rồng trong đền vua Đinh ở Hoa Lư. (Hình: Kien1980v/Wikimedia/Public Domain)

Nếu ở Cổ Pháp có thành trì kiên cố, Lý Thái Tổ chắc đã dời đô về đó quách. Nhưng, ở Cổ Pháp chỉ có ruộng và chùa, nên Lý Thái Tổ phải tìm địa điểm khác, và ông chọn thành Ðại La.

Hãy tìm một tấm bản đồ miền Bắc Việt Nam và xem vị trí những nơi này. Hoa Lư nằm cách Hà Nội 100km về hướng nam. Huyện Thanh Liêm, nơi hầu hết sử gia đồng ý là quê Lê Ðại Hành, nằm cách Hoa Lư 30km về hướng bắc, ngay trên đường thẳng đi Hà Nội.

Làng Cổ Pháp, nguồn hậu thuẫn của Lý Thái Tổ, lại nằm cách Hoa Lư rất xa, cách thành Ðại La 15km về hướng đông bắc.

Nếu ở lại Hoa Lư, Lý Thái Tổ sẽ phải sống ngay ở chỗ có hậu duệ nhà Ðinh, và muốn qua lại với quê mình là Cổ Pháp thì phải băng qua quê của nhà Lê. Hoa Lư, do đó, là một chỗ không an toàn cho ngai vua.

Read more of this post

Na Uy sửa sách giáo khoa về chiến tranh Việt Nam

(Bài đăng báo ở đây)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Một bức hình nạn nhân cuộc thảm sát Mậu Thân nay đã được ghi chú chính xác lại, sau nhiều năm bị sách giáo khoa ở Na Uy gán cho vụ Mỹ Lai. Ðó là một thay đổi nhỏ, trong nhiều thay đổi, mà một bác sĩ gốc Việt cho là “cần chấn chỉnh trong sách giáo khoa” nước này.

Bức hình nạn nhân vụ thảm sát Tết Mậu Thân, bị sách giáo khoa Na Uy gán cho Mỹ Lai, nay được đính chính nhờ sự can thiệp của hai tác giả Tạ Văn Thông và Nguyễn Ngọc Khang.

Ðó là một bức hình khá quen thuộc. Người phụ nữ gầy gò, nắm chiếc nón lá, vật vã khóc thương bên xác thân nhân mình. Ðây là bức hình quen thuộc mà rất nhiều người nhận ra là cảnh sau Tết Mậu Thân, tại cố đô Huế, khi người ta khám phá ra những nấm mồ tập thể chôn hàng ngàn nạn nhân bị Cộng Sản giết chỉ trong vài ngày chiếm đóng cố đô.

Nhưng, trên một cuốn sách giáo khoa của nhà xuất bản Cappelen, được sử dụng rất nhiều tại Na Uy, tấm hình này lại bị ghi chú khiến người đọc có cảm tưởng đây là nạn nhân vụ Mỹ Lai. Lỗi lầm quá rõ rệt này khiến hai người Na Uy gốc Việt lên tiếng, không phải chỉ vì bức hình đó, mà vì nhiều dấu hiệu thiên vị khác trong sách giáo khoa Na Uy.

Hai người này là ông Tạ Văn Thông và Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Khang. Trên một bài tham luận đăng trên báo Aftenposten ngày 21 tháng 4, 2010, hai tác giả phân tích cả một nền giáo dục Na Uy, trong đó cuộc chiến Việt Nam được dạy mà không có một chút bóng dáng nào của người dân miền Nam Việt Nam.

Cuốn sách mà hai tác giả này chú trọng vào, là sách của nhà xuất bản Cappelen. Giống như ở Mỹ, ở Na Uy nhà nước không ép buộc dùng sách giáo khoa nào, mà tùy các trường quyết định, và Cappelen là một trong hai nhà xuất bản sách giáo khoa lớn nhất Na Uy.

“Thật là sai trái, theo chúng tôi, khi mà sách giáo khoa Na Uy lại trình bày chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến tranh Mỹ,” hai tác giả Tạ Văn Thông và Nguyễn Ngọc Khang viết. “Tình hình là như vậy, sách sử của nhà Cappelen in năm 2008 dùng cho trường trung học, với Kennedy, Johnson, NixonMartin Luther King. Về năm mà Mỹ mang quân tới Việt Nam và năm họ rút ra. Về số người Mỹ thiệt mạng tại đó.”

Chiến tranh Việt Nam không có Việt Nam

“Học sinh, vì vậy, được học hình ảnh người lính Mỹ và phóng viên Mỹ tiến về phía trước. Tại sao người miền Nam Việt Nam lại vắng mặt ngay trên đất nước của họ, mặc dù họ từng chiến đấu trong cuộc chiến ngày xưa đó, đánh nhiều trận đánh và hy sinh 250,000 người lính, so với 58,000 lính Mỹ?” – hai tác giả bài báo này viết.

Trong một cuộc phỏng vấn tại tòa soạn nhật báo Người Việt, Bác Sĩ Khang nói thêm về những điều không công bằng trong sách giáo khoa Na Uy: “Những trang viết về chiến tranh Việt Nam thì họ nói chẳng hạn chế độ Việt Nam Cộng Hòa tham nhũng, độc tài, không có gì tốt hơn, xong họ còn viết mấy hàng về cuộc thảm sát Mỹ Lai của Mỹ, xong rồi dường như để minh họa phần đó, họ in hình của người đàn bà này và họ ghi đây là người đàn bà đang khóc chồng sau một vụ thảm sát. Tuy họ không nói thẳng, cách họ làm khiến người đọc có cảm tưởng đây là hình từ vụ Mỹ Lai.”

Bác Sĩ Khang có một giả thiết về lý do tại sao người Mỹ xem nhẹ công lao của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đã qua. Giả thiết của ông dựa trên một lý thuyết của giới trí thức cấp tiến ở Mỹ, thuyết “Orientalism.”

Read more of this post

Báo Người Việt trên VnExpress

fans-members-westminster-

Cái này zui à nha.

Ở tòa soạn báo Người Việt có phòng hội trường, chiếu các trận World Cup trên màn hình lớn cho bà con zô coi.

Báo OC Register vô viết bài, làm phóng sự hình. Ở đây.

VnExpress chép lại, copy lại hình. Ở đây.

Và gọi báo Người Việt là “tòa soạn báo của người Việt ở Little Saigon, quận Cam.”

Heheheh.

Chúc mừng các bác nhà cái cá độ. Kỳ World Cup này ăn khẳm, nhất là trận Hà Lan-Brazil.

Cô gái mang tên tàu chiến – vài chuyện kể thêm

(Xem: Kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3)

• Hạm trưởng Paul Jacobs giải ngũ, cùng với ông sui gia người gốc Hoa mở một công ty. Công ty này hồi năm 2006 đã làm việc với Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ để thiết lập một hệ thống computer có thể đọc được digital tape cũ, từ thời chiến tranh Việt Nam, chứa dữ kiện về bom rớt mà chưa nổ, rồi so sánh với địa lý hiện nay, để giúp phía quân đội Việt Nam đi tìm và hủy bom cũ.

• Một tháng sau ngày họp mặt tại Orlando, Donald Cox viết email cho tôi: “Xin được báo cho ông một tin mừng, bài viết của ông về thuyền Kirk đã được trình bày lên Tư Lệnh Hải Quân trong một buổi briefing.”

Ông Cox viết thêm:

“Tuần trước vợ tôi bị trộm lấy mất xe. Chúng tôi mới vừa đi họp mặt gia đình về. Trong xe, có tờ báo Người Việt tôi mang theo để khoe với họ hàng. Hôm qua, tìm được xe, nhưng tờ báo bị vứt đâu mất rồi. … Có còn bản nào nữa không? Tôi muốn giữ một bản chính để để lại cho coon cháu sau này. Hy vọng chúng sẽ học từ câu chuyện này bài học về nền tự do chúng đang hưởng đã có người phải trả giá đắt như thế nào.”

• Bài về tàu Kirk lúc đầu là nhiều bài, đăng báo ngày, sau đó tổng hợp lại đăng báo Xuân.

“Phần 1″ tương đương bài báo đầu tiên. Tôi đăng bài các thủy thủ tàu USS Kirk tìm cô gái. Mẹ cô đọc báo, trông thấy, gửi email tới Jim Bongaard. Bongaard báo cho tôi biết.

Sau đó tôi gặp chị Lan và hỏi chuyện về chuyến đi của chị. Tương đương “Phần 2″ và một phần của “Phần 1″. Bài đăng báo 2 kỳ.

Rồi họ họp mặt ở Orlando. Tôi tới dự nhưng chỉ đi một tin ngắn. Sau này lúc viết bài cho báo Xuân mới viết thành cả một “Phần 3″ với câu chuyện của gia đình Bảo.

Ngoài gia đình cô Giáng Tiên và gia đình Bảo, sau này còn nhiều gia đình khác đã từng chạy loạn trên tàu Kirk tìm đến nhóm thủy thủ qua những bài báo của tôi.

• Cậu bé trong hình trên cũng qua bài báo mà tìm thấy. Người em gái cậu ta đã viết email cho Jim Bongaard khi nhìn thấy hình anh mình trên báo.

• Nhóm cựu thủy thủ cũng vào lục trong văn khố quốc gia United States National Archives, tìm ra quyển log (số nhật ký ghi chép mọi việc trong tàu – ai xài blog phải biết chữ log, vì blog là từ ‘web log’ mà ra) của tàu vào năm 1975. Trong đó có ghi lại tọa độ chính xác của 3 lần phải thủy táng người tỵ nạn bị chết.

• Người sĩ quan râu xồm, nhận bàn giao tàu chiến HQ-11, là trung úy John Pine. Sau buổi lễ bàn giao, trung úy Pine xin lá cờ Việt Nam Cộng Hòa làm kỷ niệm.

Từ căn cứ Subic Bay, gia đình ông Phạm Đình San đi Guam, rồi tới Mỹ vào trại tỵ nạn tại Camp Pendleton đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7. Xuất trại, ông San làm lại cuộc đời từ con số không với việc phu khuân vác trong nhà máy cao su tại Orange, California và sống trong một căn apartment hai phòng ngủ thuê tại Stanton, gần Westminster nay đã thành khu Little Saigon trù phú.

Chính tại đây, vào tháng Mười Hai 1975, đã có bốn người Mỹ đến gõ cửa. Ông San mở cửa, và trước mặt ông là vợ chồng trung úy John Pine và hai đứa con nhỏ. “Ông ta ôm tôi mừng rỡ và thăm hỏi một cách chân tình như là đã thân thiết từ lâu lắm rồi,” ông San kể.

Ông San mời gia đình Pine ở lại ăn cơm tối. Ông nhớ lại, “Anh có biết tôi đã đãi họ những món cao lương mỹ vị gì không? Đó là món mì xào thập cẩm làm bằng sợi mì lấy ra từ 6 giói mì ăn liền, đem chụm nước sôi rồi bỏ vào chảo xào chung với hot dog, carrot, broccoli và celery.”

Trước khi ra về, John Pine gửi lại cho ông San lá cờ Việt Nam Cộng Hòa có vết rách nhỏ, là lá cờ được hạ xuống từ cột cờ chiếc tàu Chí Linh. Và cả lá cờ Hoa Kỳ, chính là lá cờ được treo lên sau đó. Trung úy Pine cũng tặng thêm một số hình ảnh chụp trong ngày vận mệnh đó.

Trung úy Pine đã qua đời vào khoảng giữa thập niên 1990. Sau gần hai thập niên chinh chiến và đã lên đến cấp bậc đại tá, John Pine thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi khi trên đường đi dự đám cưới một thủy thủ dưới quyền mình.

Tuy qua Mỹ lúc đã lớn tuổi, ông San học lại từ đầu, tốt nghiệp kỹ sư và đi làm cho tới năm 70 tuổi mới về hưu.

(Kỳ 3) Ba mươi năm mới đến một ngày

 

Phạm Nguyễn Ngọc Bảo và em gái Rose Viễn Phương cắt bánh sinh nhật của Rose. Rose sinh ra ngay sau khi di tản tới đảo, còn Bảo bị lên sởi và thoát chết nhờ bệnh xá tàu USS Kirk. (Hình gia đình)

(tiếp theo kỳ trước)

Vũ Quí Hạo Nhiên

Orlando, Florida, là thành phố vui chơi. Nói đến Orlando, người ta nghĩ đến Disney World, đến Epcot Center.

Với bà Lan Trần, Orlando là nơi hội ngộ những người từng giúp đỡ mình trong những ngày biến động lớn nhất đời. Và với Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, Orlando là nơi lần đầu tiên cô gặp những người cha kết nghĩa, những người là nguyên nhân cô mang tên Kirk.

Nhóm cựu thủy thủ đoàn chiếc USS Kirk hội ngộ tại Orlando, Florida vào tháng Mười. Họ mời cả gia đình Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên đến dự. Jim Bongaard, Donald Cox, hạm trưởng Paul Jacobs đều về.

Tại cuộc hội ngộ các thủy thủ thuyền USS Kirk cũng có mặt một số người Việt Nam. Họ là những người từng trải qua cuộc di tản năm 1975, ba mươi năm sau gặp chiến thuyền Kirk để ôn lại những chuyện ngày xưa và gặp lại những người từng giúp mình đi đến bến tự do. Họ cũng là những người, như các ông Trọng Lâm, Chu Bá Yến, và Nguyễn Xuân Sơn, đến với cuộc hội ngộ thủy thủ thuyền Kirk vì tình huynh đệ hải quân. Thân phụ Trọng Lâm là cựu Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, từng là tư lệnh Hải Quân Việt Nam. Chu Bá Yến là cựu Trung tá Sĩ Quan Tham Mưu Tư Lệnh Hải Quân. Nguyễn Xuân Sơn là cựu đại tá Tư Lệnh Hạm Đội của Hải Quân Việt Nam.

Có người muốn đến, nhưng không đến được, là ông Richard Armitage. Vào năm 1975, Armitage là tùy viên quân sự tòa Ðại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, được giao trách nhiệm điều khiển cuộc di tản. Armitage nói rành tiếng Việt, có tên Việt Nam là “Phú,” và sau này là Thứ Trưởng Ngoại Giao. Ông đã định đến cuộc hội ngộ này như một lần gặp lại công tác của mình 30 năm trước, nhưng đúng cuối tuần đó, một cơn bão nhỏ đổ tới tiểu bang West Virginia nơi ông cư ngụ. Ông đành ở nhà lo chống bão.

Từ California, ông Phạm Đình San bay qua. Ba mươi năm trước, ông là trung tá hạm trưởng chiếc Chí Linh HQ-11. Nay ông đang làm kỹ sư cho hãng Raytheon.

Từ New York, Phạm Nguyễn Ngọc Bảo bay xuống. Ba mươi năm trước, Bảo là một cậu bé bốn tuổi, lên cơn sởi trên đường di tản. Nay Bảo là một chuyên viên quảng cáo cho một công ty lớn.

Tất cả đều là những người từng cùng nhau trải qua một biến cố quan trọng trong đời. Họ đến cuộc hội ngộ với những câu chuyện để kể cho nhau nghe.

.

Người sĩ quan trên chiếc tàu Hải Quân Việt Nam

Kỹ sư Phạm Đình San nhận ra hình của chính mình trên báo. Khi báo Người Việt viết về cựu thủy thủ tàu USS Kirk tìm cô con gái tinh thần của mình và kể về chuyến công tác di tản của chiến thuyền này, báo Người Việt đăng tấm hình hai sĩ quan, một Mỹ một Việt, đứng nghiêm chào và trao quyền chỉ huy. Vị thiếu tá trong hình chính là ông Phạm Đình San.

“Tôi chính là người hạm trưởng trong tấm hình đăng trên báo,” ông San gọi vào tòa soạn Người Việt và báo cho tôi biết.

Read more of this post

(Kỳ 2) Người phụ nữ chạy loạn và cô gái mang tên tàu chiến

Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên lúc 10 ngày tuổi. Phía xa xa là trại lính ở Guam. (Hình gia đình)

.

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

(tiếp theo kỳ trước)

“Chuyến tàu rất là tốt với người tỵ nạn Việt Nam mình,” bà Lan Trần nhớ lại về chiến thuyền USS Kirk, đã đưa gia đình bà, lúc đó chỉ là một thiếu nữ trẻ mang bầu, đến bến tự do.

Ba mươi năm sau, con gái của bà Lan đã là mục tiêu tìm kiếm suốt nhiều tháng của các cựu thủy thủ chiến thuyền USS Kirk. Họ biết rằng đã có một thiếu nữ sau khi được cứu trên đường di tản đã đặt tên “Kirk” trong tên con gái mình.

Sau khi báo Người Việt đăng bài phóng sự về các cựu thủy thủ Mỹ tìm cô gái mang tên “Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” bà Lan Trần, tên Việt là Nguyễn Thị Tường Lan, nhận ra câu chuyện của chính mình và bắt liên lạc được với những người ân nhân cũ.

Ông Jim Bongaard vui mừng: “Chúng tôi tìm cô gái ‘Kirk baby’ cả mấy tháng trời, in tờ rơi, nhờ người dịch ra tiếng Việt, gửi email khắp nơi. Chúng tôi cũng định vào cả kho dữ liệu của Sở Di Trú. Nhưng nhờ bài phóng sự trên báo Người Việt, mẹ của ‘Kirk baby’ đã liên lạc với chúng tôi.”

Thủy thủ Mỹ và một bé trai Việt. (Hình trích kỷ yếu USS Kirk 1975)

.

Thoát vào phút chót

Đường di tản của cô thiếu nữ tên Lan đã không đơn giản. Mặc dù chồng cô, trong những tháng cuối cùng, là một phi công thuộc phi đoàn đưa đón các VIP và đóng trong Tân Sơn Nhứt, nhưng cô Lan đã không được dễ dàng lên máy bay rồi đi, mà cuộc di tản của cô Lan cũng gian truân không thua các cuộc di tản khác của người Việt Nam lúc bấy giờ.

Đến 9, 10 giờ đêm ngày 29 tháng Tư, 1975, cô Lan vẫn còn ở nhà. Trong phi trường bị pháo kích nhiều quá, cô đã dọn qua nhà một người họ hàng là một bác sĩ dân biểu. Người chồng gọi về giục gia đình đi. Mẹ cô Lan cũng quyết định, “Thôi, đi!”

Gia đình cô Lan lúc bấy giờ đã chung sẵn tàu ở Tân Thuận Đông, nhưng không có cách nào ra đó cả. Bấy giờ, Sài Gòn đã loạn. Các Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và sau đó là Trần Văn Hương đều đã từ chức. Tân tổng thống Dương Văn Minh mới nhậm chức được một ngày và không ai thấy có hy vọng gì cứu vãn tình hình. Xuân Lộc đã thất thủ trước đó một tuần. Các tuyến phòng thủ cuối cùng quanh Sài Gòn đã bị chọc thủng.

May thay, lúc bấy giờ, người tài xế của ông dân biểu chủ nhà, sau khi chở ông đi di tản, lại quay về nhà mình, và không quên ghé qua nhà ông dân biểu trao chìa khóa! Mẹ con cô Lan nhân dịp đó nhờ ông tài xế chở ra bến tàu. Ông chở ra thật.

Nhưng được chở ra bến tàu vẫn chưa có nghĩa là đi được. Khi mẹ con đến nơi, cổng bến tàu đã bị chặn lại. Hàng rào kẽm gai chặn không cho xe đi qua.

Read more of this post

Chuyện cô gái mang tên tàu chiến (kỳ 1)

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên. (Hình: Benjamin Vũ)

(Bài đăng báo Xuân Người Việt 2006)

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

Ngày Tết, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một câu chuyện.

Có người bảo đây là câu chuyện của hai người thiếu nữ xinh đẹp, một thiếu nữ của 30 năm trước và một thiếu nữ của 30 năm sau. Cũng có người bảo đây là là chuyện của một bài báo. Lại có người bảo đây là câu chuyện của một chiến thuyền Mỹ và nhóm thủy thủ trên đó. Có người còn bảo đây là câu chuyện của một dân tộc, thậm chí, của hai dân tộc.

Nhưng với tôi, đây là một câu chuyện tình. Trong câu chuyện này, hai người thiếu nữ, các thủy thủ, và cả đoàn người Việt Nam di tản tránh cộng sản, đều là những nhân vật được ràng buộc bằng một mối dây thắt chặt cả nhân loại.

Mối dây đó, là tình người.

.

Phần 1
Cuộc di tản vĩ đại của người Việt Nam – Ba mươi năm tìm một cô gái

Sau 30 tháng 4 năm 1975, một chiến thuyền Mỹ hộ tống một đoàn tàu hải quân Việt Nam Cộng Hòa mang 20,000 người tỵ nạn từ khu vực đảo Côn Sơn đến Subic Bay.

Trên chiếc tàu ấy, USS Kirk FF1087, có một sản phụ lúc đến nơi đã hạ sinh một em bé, và người sản phụ đã dùng tên “Kirk” vào đặt cho em bé gái, dù Kirk là tên con trai.

Câu chuyện lãng mạn trên là câu chuyện có thật, và thủy thủ đoàn chiến tàu USS Kirk ra sức tìm lại em bé trên để mời gia đình em cùng họp ngày hội ngộ thủy thủ đoàn. “Nghe đâu tên là Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” ông Jim Bongaard, một cựu thủy thủ về hưu với cấp bậc trung sĩ, thuật lại.

.

Công tác di tản

Vào thời gian cuối tháng Tư 1975, hạm trưởng khu trục hạm USS Kirk FF1087 (chữ FF viết tắt “fast frigate”) là trung tá Paul H. Jacobs. Sau này ông Jacobs về hưu với cấp bậc đại tá. Ông kể lại tình trạng di tản hỗn loạn trong ngày đó:

“Chúng tôi thuộc Hạm đội 7, lúc thời gian cuối tháng Tư, khoảng ngày 25, chúng tôi thả neo ngoài cửa sông, cách Sài Gòn khoảng 5000 mét. Nhiệm vụ của chúng tôi là hỗ trợ hỏa lực cho Tòa Đại sứ Mỹ nếu cần. Lúc bấy giờ rất nhiều phi công Việt Nam lái trực thăng chở người di tản đậu trên tàu USS Kirk.” Nhưng người ta không chỉ bay ra thôi, có người còn muốn bay về. “Có người bay ra trên một trực thăng. Rồi khi thấy chiếc trực thăng sau đó tới thì lại muốn trở về. Tâm trạng người ta lúc đó cũng hoang mang lắm,” ông Jacobs nói.

Một chiếc trực thăng vỡ tung khi thả xuống biển. Có thể đây chính là chiếc trực thăng được đại úy Hugh Doyle kể lại. (Hình: trích Kỷ Yếu USS Kirk 1975)

Từng chiếc trực thăng đáp xuống USS Kirk. Mặc dầu đây là những trực thăng thiết kế để đáp xuống đất chứ không phải xuống một khu trục hạm, và mặc dù hầu như chắc chắn các phi công không hề được huấn luyện đáp xuống tàu, nhưng các trực thăng đều đáp an toàn. Thủy thủ trên tàu soát người trên trực thăng để chắc chắn không mang vũ khí hay hàng cấm, rồi dẫn vào bên trong. “Trên chiếc trực thăng đầu tiên là một ông Thiếu Tướng. Tôi nhường giường tôi cho ông ấy, ông ta mệt lử ngủ 3 ngày sau mới dậy,” hạm trưởng Jacobs nhớ lại.

Một trực thăng, hai trực thăng, ba trực thăng, boong tàu bắt đầu chật. Thủy thủ đoàn phải xô bớt trực thăng xuống biển để có chỗ đậu những chiếc kế. Chiếc trực thăng thứ 13, một chiếc CH-47, quá lớn, không đậu xuống khu trục hạm được. Phi công bay là là phía trên boong tàu để hành khách nhảy xuống những vòng tay đỡ ở dưới. Khi mọi người đã xuống, phi công bay ra xa một chút, nhảy ra ngoài và cho trực thăng rớt xuống biển. Một nhóm thủy thủ từ USS Kirk nhảy xuống, bơi ra, vớt ông lên.

Ông Hugh J. Doyle, lúc đó là đại úy kỹ sư trưởng, thâu một đoạn băng cassette gửi về cho vợ ở Mỹ, kể lại việc một phi công Việt Nam đã rất khéo léo cho máy bay mình rớt xuống biển mà cá nhân người phi công cũng an toàn – vì nếu không khéo, khi trực thăng rớt trúng mặt nước vỡ tung ra, sẽ có thể làm phi công bị thương:

“Viên phi công của chiếc Chinook cũng bảo phi công phụ hãy nhảy xuống tàu, và bây giờ em hãy hình dung như sau: người phi công chỉ còn một mình trên trực thăng – anh chàng Việt Nam nhỏ nhắn này điều khiển chiếc máy bay to lớn, với hai động cơ và hai chong chóng phía trước và phía sau, và từ từ bay ra cách sườn tàu khoảng một trăm yard. Rồi anh ta cho chiếc Chinook bay đứng tại chỗ rất gần mặt nước, và bắt đầu cố gắng cởi tất cả y phục, trừ chiếc quần lót – anh ta làm như vậy trong khi vẫn một mình điều khiển cho chiếc trực thăng bay đứng tại chỗ mà không có phi công phụ trợ giúp.

“Trong khi anh ta bay chiếc trực thăng to lớn này chỉ cách mặt nước vài feet, anh ta cởi tất cả y phục ra, liệng quần áo ra khỏi cửa sổ buồng lái, phía bên trái của máy bay, rồi anh ta leo ra ngoài cửa sổ. Không biết bằng cách nào anh ta còn giữ được hai cái cần điều khiển của trực thăng, anh ta điều khiển cho máy bay nghiêng sang phía bên phải, trong khi nó vẫn còn bay đứng tại chỗ, rồi anh ta nhảy sang phía bên trái, lao ra khỏi phòng lái và nhào xuống nước. Thật là kỳ diệu!

Read more of this post

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 308 other followers

%d bloggers like this: