Ðại sứ Mỹ từng kẹt 8 tháng vì 16 em bé Bạc Liêu

Em Gabriel (giữa) chụp hình với các bạn và tấm hình của em chụp trước đây, là tấm hình cha mẹ nuôi em đang giữ bên Mỹ cùng hy vọng có ngày sum họp với em. Ðể áp lực Bộ Ngoại Giao đặt áp lực lên Việt Nam giải quyết cho các em đoàn tụ, nhiều thượng nghị sĩ liên bang thay phiên nhau chặn đứng việc bổ nhiệm ông David Shear làm đại sứ tại Hà Nội. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Vũ Quí Hạo Nhiên & Trần Tiến Dũng/Người Việt
(Bài đăng báo 14/8/2011)

BẠC LIÊU (NV) – Em bé trong cô nhi viện ở Bạc Liêu giơ tay ra nhận quà từ người khách xa lạ. Một hộp sữa, một gói bánh, cây kẹo. Các bạn em cũng mỗi em một phần quà.

Người khách còn mang theo 3 tấm hình của 3 em trong số này. Mỗi em tò mò nhìn hình của chính mình, chụp 2-3 năm trước.

Ba tấm hình đó là một phần của mối dây liên kết giữa các em với cha mẹ nuôi bên kia quả địa cầu. Cha mẹ em đang mong các em được qua Mỹ, để các em được yêu thương, được chăm sóc, được nằm trong vòng tay gia đình.

Các em chắc không biết các em đã có tên Mỹ: Em Nate, em Lincoln, em Gabriel.

Và các em chắc không biết là chính vì các em chưa được đi Mỹ, nên vị đại sứ Mỹ tại Việt Nam bị kẹt 8 tháng không được đi Hà Nội.

.

Chạy đua cùng ‘hiệp ước’

.

Ở tiểu bang Indiana có 3 gia đình đang chờ các em, là các cặp vợ chồng Nick và Lori LeRoy; John và Courtney Cowley; và Chris và Marla Laystrom.

Ðầu năm 2007, hai vợ chồng Chris và Marla Laystrom tìm đến một dịch vụ tìm con nuôi. Họ điền đơn, được giao cho một sấp tài liệu để học về cách nuôi con nuôi đến từ ngoại quốc. Tới tháng 3 năm 2007, họ làm xong giấy tờ và cũng học xong khóa học, thì hồ sơ được chuyển qua Việt Nam vào tháng 7, 2007.

Marla cho báo Người Việt biết, ngay từ lúc đó, “Chúng tôi đã biết là hiệp ước song phương về con nuôi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sắp hết hạn vào tháng 9 năm 2008 và chúng tôi rất sợ là sẽ không được giới thiệu con nuôi trước thời điểm đó.”

Ngày mà hai vợ chồng Chris và Marla Laystrom được tin họ sẽ có con nuôi, là ngày 1 tháng 8 năm 2008. Tới bây giờ Marla vẫn nhớ ngày đó. “Chúng tôi được tin chúng tôi được ghép với một em bé trai rất dễ thương đẹp đẽ, 6 tháng tuổi.”

“Lần đầu tiên thấy hình em bé, tim tôi như vỡ ra,” Marla kể lại. “Chúng tôi yêu cháu và từ lúc đó trở đi, cháu là con chúng tôi.”

Chris và Marla đặt tên cho em là Gabriel.

Read more of this post

‘Chơi dại’ trong xã hội dân chủ

Tuần trước AP có tin này: Người đồng tính, thất vọng đảng Dân Chủ không cải tổ được luật để ngưng kỳ thị người đồng tính, sẽ bỏ rơi đảng Dân Chủ.

(Ngược lại hôm qua Reuters có tin khác, cho rằng người đồng tính, tuy không góp tiền cho đảng Dân Chủ nữa, nhưng sẽ vẫn đi bầu.)

Bây giờ, giả sử tin AP chính xác hơn tin Reuters. Tức là, người đồng tính sẽ thà để cho Cộng Hòa (được/bị xem là kỳ thị người đồng tính hơn) thắng, để dạy cho Dân Chủ một bài học.

Nghe hơi vô lý phải không? Có hai thằng, AB. Thằng A nó tệ với mình 1, thằng B nó tệ với mình 10, nhưng vì giận thằng A nên mình để cho thằng B nó thắng???

Nếu tính thuần túy lợi hại ở thời điểm này, đây là một cách hành xử không có hợp lý, không có rational chút nào hết. Rất dại dột.

Trong quá khứ, đã từng có những cách hành xử như vậy rồi. Thí dụ, năm 2000, người bảo thủ vì ghét TT George H.W. Bush (Bush cha) nên bỏ rơi ổng, để mặc cho kẻ mà họ còn ghét hơn, là Bill Clinton, vào chiếm White House.

Ở cấp tiểu bang, địa phương, chuyện này xảy ra gần như luôn luôn. Nhân vật A đảng Dân Chủ, chẳng hạn, bị chê là không đủ cấp tiến, quá bảo thủ, nên cử tri Dân Chủ mặc kệ cho nhân vật B đảng Cộng Hòa oánh bỏ mịa nhân vật A. Trong khi đó nhân vật B còn bảo thủ hơn cả A. Rõ dại.

Có phải có cái gì đó dại dột trong cách hành xử này? Có cái gì đó không rational? Cách hành xử này có dẫn đến kết quả không tối ưu?

Dân chủ không tối ưu? Dân chủ dẫn đến nghịch lý? Vì vậy, không nên dân chủ? Cứ cộng sản cho nó lành? Read more of this post

Sấm sét Sài Gòn

Tay nhà báo Jens Koehler hãng dapd của Đức chụp được tấm này nè, hay chưa.  Chú thích hình:

“Ein Blitz schlaegt am Donnerstag (16.09.10) waehrend eines Gewitters in Ho-Chi-Minh-Stadt (Saigon), Vietnam, ein. Foto: Jens Koehler/dapd”

Lần trước tớ về SG, cái nhà cao ngồng kia dường như chưa xây, làm tớ lúc đầu không nhận ra.

Bài thơ cho cha

Đây là bài thơ con trai bác này ↑ viết tặng bác í, bác í gởi tớ xem, tớ bèn post lên đây.

 

Chia sẻ
Hôm qua lúc 8:39 chiều
Lời lẽ, sẽ là một thứ rác rưởi
Được moi từ mép của cái vực tâm hồn
Là sự bất lực của âm thanh khi cố gắng
nói theo nhịp đập
Vào một ngày
nhắm mắt thấy sự hổ thẹn đang ăn mòn cơn bệnh,

Tình yêu
nói bằng thứ tiếng im lặng

được trao bởi người đàn ông
cho tôi cái gối để ôm
những giấc mơ
Ông ta, mồ hôi mặn chát, có chậu cây thúi mùi phân
Đôi mắt nhăn lại, thấy thăm thẳm
đầu cạo trọc và cái bụng phệ
Một người
Có chiếc cub năm mươi
mà mua cho tôi
tâm hồn.

Chúc mừng ngày của cha!

Cô gái mang tên tàu chiến – vài chuyện kể thêm

(Xem: Kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3)

• Hạm trưởng Paul Jacobs giải ngũ, cùng với ông sui gia người gốc Hoa mở một công ty. Công ty này hồi năm 2006 đã làm việc với Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ để thiết lập một hệ thống computer có thể đọc được digital tape cũ, từ thời chiến tranh Việt Nam, chứa dữ kiện về bom rớt mà chưa nổ, rồi so sánh với địa lý hiện nay, để giúp phía quân đội Việt Nam đi tìm và hủy bom cũ.

• Một tháng sau ngày họp mặt tại Orlando, Donald Cox viết email cho tôi: “Xin được báo cho ông một tin mừng, bài viết của ông về thuyền Kirk đã được trình bày lên Tư Lệnh Hải Quân trong một buổi briefing.”

Ông Cox viết thêm:

“Tuần trước vợ tôi bị trộm lấy mất xe. Chúng tôi mới vừa đi họp mặt gia đình về. Trong xe, có tờ báo Người Việt tôi mang theo để khoe với họ hàng. Hôm qua, tìm được xe, nhưng tờ báo bị vứt đâu mất rồi. … Có còn bản nào nữa không? Tôi muốn giữ một bản chính để để lại cho coon cháu sau này. Hy vọng chúng sẽ học từ câu chuyện này bài học về nền tự do chúng đang hưởng đã có người phải trả giá đắt như thế nào.”

• Bài về tàu Kirk lúc đầu là nhiều bài, đăng báo ngày, sau đó tổng hợp lại đăng báo Xuân.

“Phần 1″ tương đương bài báo đầu tiên. Tôi đăng bài các thủy thủ tàu USS Kirk tìm cô gái. Mẹ cô đọc báo, trông thấy, gửi email tới Jim Bongaard. Bongaard báo cho tôi biết.

Sau đó tôi gặp chị Lan và hỏi chuyện về chuyến đi của chị. Tương đương “Phần 2″ và một phần của “Phần 1″. Bài đăng báo 2 kỳ.

Rồi họ họp mặt ở Orlando. Tôi tới dự nhưng chỉ đi một tin ngắn. Sau này lúc viết bài cho báo Xuân mới viết thành cả một “Phần 3″ với câu chuyện của gia đình Bảo.

Ngoài gia đình cô Giáng Tiên và gia đình Bảo, sau này còn nhiều gia đình khác đã từng chạy loạn trên tàu Kirk tìm đến nhóm thủy thủ qua những bài báo của tôi.

• Cậu bé trong hình trên cũng qua bài báo mà tìm thấy. Người em gái cậu ta đã viết email cho Jim Bongaard khi nhìn thấy hình anh mình trên báo.

• Nhóm cựu thủy thủ cũng vào lục trong văn khố quốc gia United States National Archives, tìm ra quyển log (số nhật ký ghi chép mọi việc trong tàu – ai xài blog phải biết chữ log, vì blog là từ ‘web log’ mà ra) của tàu vào năm 1975. Trong đó có ghi lại tọa độ chính xác của 3 lần phải thủy táng người tỵ nạn bị chết.

• Người sĩ quan râu xồm, nhận bàn giao tàu chiến HQ-11, là trung úy John Pine. Sau buổi lễ bàn giao, trung úy Pine xin lá cờ Việt Nam Cộng Hòa làm kỷ niệm.

Từ căn cứ Subic Bay, gia đình ông Phạm Đình San đi Guam, rồi tới Mỹ vào trại tỵ nạn tại Camp Pendleton đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7. Xuất trại, ông San làm lại cuộc đời từ con số không với việc phu khuân vác trong nhà máy cao su tại Orange, California và sống trong một căn apartment hai phòng ngủ thuê tại Stanton, gần Westminster nay đã thành khu Little Saigon trù phú.

Chính tại đây, vào tháng Mười Hai 1975, đã có bốn người Mỹ đến gõ cửa. Ông San mở cửa, và trước mặt ông là vợ chồng trung úy John Pine và hai đứa con nhỏ. “Ông ta ôm tôi mừng rỡ và thăm hỏi một cách chân tình như là đã thân thiết từ lâu lắm rồi,” ông San kể.

Ông San mời gia đình Pine ở lại ăn cơm tối. Ông nhớ lại, “Anh có biết tôi đã đãi họ những món cao lương mỹ vị gì không? Đó là món mì xào thập cẩm làm bằng sợi mì lấy ra từ 6 giói mì ăn liền, đem chụm nước sôi rồi bỏ vào chảo xào chung với hot dog, carrot, broccoli và celery.”

Trước khi ra về, John Pine gửi lại cho ông San lá cờ Việt Nam Cộng Hòa có vết rách nhỏ, là lá cờ được hạ xuống từ cột cờ chiếc tàu Chí Linh. Và cả lá cờ Hoa Kỳ, chính là lá cờ được treo lên sau đó. Trung úy Pine cũng tặng thêm một số hình ảnh chụp trong ngày vận mệnh đó.

Trung úy Pine đã qua đời vào khoảng giữa thập niên 1990. Sau gần hai thập niên chinh chiến và đã lên đến cấp bậc đại tá, John Pine thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi khi trên đường đi dự đám cưới một thủy thủ dưới quyền mình.

Tuy qua Mỹ lúc đã lớn tuổi, ông San học lại từ đầu, tốt nghiệp kỹ sư và đi làm cho tới năm 70 tuổi mới về hưu.

(Kỳ 3) Ba mươi năm mới đến một ngày

 

Phạm Nguyễn Ngọc Bảo và em gái Rose Viễn Phương cắt bánh sinh nhật của Rose. Rose sinh ra ngay sau khi di tản tới đảo, còn Bảo bị lên sởi và thoát chết nhờ bệnh xá tàu USS Kirk. (Hình gia đình)

(tiếp theo kỳ trước)

Vũ Quí Hạo Nhiên

Orlando, Florida, là thành phố vui chơi. Nói đến Orlando, người ta nghĩ đến Disney World, đến Epcot Center.

Với bà Lan Trần, Orlando là nơi hội ngộ những người từng giúp đỡ mình trong những ngày biến động lớn nhất đời. Và với Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, Orlando là nơi lần đầu tiên cô gặp những người cha kết nghĩa, những người là nguyên nhân cô mang tên Kirk.

Nhóm cựu thủy thủ đoàn chiếc USS Kirk hội ngộ tại Orlando, Florida vào tháng Mười. Họ mời cả gia đình Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên đến dự. Jim Bongaard, Donald Cox, hạm trưởng Paul Jacobs đều về.

Tại cuộc hội ngộ các thủy thủ thuyền USS Kirk cũng có mặt một số người Việt Nam. Họ là những người từng trải qua cuộc di tản năm 1975, ba mươi năm sau gặp chiến thuyền Kirk để ôn lại những chuyện ngày xưa và gặp lại những người từng giúp mình đi đến bến tự do. Họ cũng là những người, như các ông Trọng Lâm, Chu Bá Yến, và Nguyễn Xuân Sơn, đến với cuộc hội ngộ thủy thủ thuyền Kirk vì tình huynh đệ hải quân. Thân phụ Trọng Lâm là cựu Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, từng là tư lệnh Hải Quân Việt Nam. Chu Bá Yến là cựu Trung tá Sĩ Quan Tham Mưu Tư Lệnh Hải Quân. Nguyễn Xuân Sơn là cựu đại tá Tư Lệnh Hạm Đội của Hải Quân Việt Nam.

Có người muốn đến, nhưng không đến được, là ông Richard Armitage. Vào năm 1975, Armitage là tùy viên quân sự tòa Ðại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, được giao trách nhiệm điều khiển cuộc di tản. Armitage nói rành tiếng Việt, có tên Việt Nam là “Phú,” và sau này là Thứ Trưởng Ngoại Giao. Ông đã định đến cuộc hội ngộ này như một lần gặp lại công tác của mình 30 năm trước, nhưng đúng cuối tuần đó, một cơn bão nhỏ đổ tới tiểu bang West Virginia nơi ông cư ngụ. Ông đành ở nhà lo chống bão.

Từ California, ông Phạm Đình San bay qua. Ba mươi năm trước, ông là trung tá hạm trưởng chiếc Chí Linh HQ-11. Nay ông đang làm kỹ sư cho hãng Raytheon.

Từ New York, Phạm Nguyễn Ngọc Bảo bay xuống. Ba mươi năm trước, Bảo là một cậu bé bốn tuổi, lên cơn sởi trên đường di tản. Nay Bảo là một chuyên viên quảng cáo cho một công ty lớn.

Tất cả đều là những người từng cùng nhau trải qua một biến cố quan trọng trong đời. Họ đến cuộc hội ngộ với những câu chuyện để kể cho nhau nghe.

.

Người sĩ quan trên chiếc tàu Hải Quân Việt Nam

Kỹ sư Phạm Đình San nhận ra hình của chính mình trên báo. Khi báo Người Việt viết về cựu thủy thủ tàu USS Kirk tìm cô con gái tinh thần của mình và kể về chuyến công tác di tản của chiến thuyền này, báo Người Việt đăng tấm hình hai sĩ quan, một Mỹ một Việt, đứng nghiêm chào và trao quyền chỉ huy. Vị thiếu tá trong hình chính là ông Phạm Đình San.

“Tôi chính là người hạm trưởng trong tấm hình đăng trên báo,” ông San gọi vào tòa soạn Người Việt và báo cho tôi biết.

Read more of this post

(Kỳ 2) Người phụ nữ chạy loạn và cô gái mang tên tàu chiến

Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên lúc 10 ngày tuổi. Phía xa xa là trại lính ở Guam. (Hình gia đình)

.

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

(tiếp theo kỳ trước)

“Chuyến tàu rất là tốt với người tỵ nạn Việt Nam mình,” bà Lan Trần nhớ lại về chiến thuyền USS Kirk, đã đưa gia đình bà, lúc đó chỉ là một thiếu nữ trẻ mang bầu, đến bến tự do.

Ba mươi năm sau, con gái của bà Lan đã là mục tiêu tìm kiếm suốt nhiều tháng của các cựu thủy thủ chiến thuyền USS Kirk. Họ biết rằng đã có một thiếu nữ sau khi được cứu trên đường di tản đã đặt tên “Kirk” trong tên con gái mình.

Sau khi báo Người Việt đăng bài phóng sự về các cựu thủy thủ Mỹ tìm cô gái mang tên “Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” bà Lan Trần, tên Việt là Nguyễn Thị Tường Lan, nhận ra câu chuyện của chính mình và bắt liên lạc được với những người ân nhân cũ.

Ông Jim Bongaard vui mừng: “Chúng tôi tìm cô gái ‘Kirk baby’ cả mấy tháng trời, in tờ rơi, nhờ người dịch ra tiếng Việt, gửi email khắp nơi. Chúng tôi cũng định vào cả kho dữ liệu của Sở Di Trú. Nhưng nhờ bài phóng sự trên báo Người Việt, mẹ của ‘Kirk baby’ đã liên lạc với chúng tôi.”

Thủy thủ Mỹ và một bé trai Việt. (Hình trích kỷ yếu USS Kirk 1975)

.

Thoát vào phút chót

Đường di tản của cô thiếu nữ tên Lan đã không đơn giản. Mặc dù chồng cô, trong những tháng cuối cùng, là một phi công thuộc phi đoàn đưa đón các VIP và đóng trong Tân Sơn Nhứt, nhưng cô Lan đã không được dễ dàng lên máy bay rồi đi, mà cuộc di tản của cô Lan cũng gian truân không thua các cuộc di tản khác của người Việt Nam lúc bấy giờ.

Đến 9, 10 giờ đêm ngày 29 tháng Tư, 1975, cô Lan vẫn còn ở nhà. Trong phi trường bị pháo kích nhiều quá, cô đã dọn qua nhà một người họ hàng là một bác sĩ dân biểu. Người chồng gọi về giục gia đình đi. Mẹ cô Lan cũng quyết định, “Thôi, đi!”

Gia đình cô Lan lúc bấy giờ đã chung sẵn tàu ở Tân Thuận Đông, nhưng không có cách nào ra đó cả. Bấy giờ, Sài Gòn đã loạn. Các Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và sau đó là Trần Văn Hương đều đã từ chức. Tân tổng thống Dương Văn Minh mới nhậm chức được một ngày và không ai thấy có hy vọng gì cứu vãn tình hình. Xuân Lộc đã thất thủ trước đó một tuần. Các tuyến phòng thủ cuối cùng quanh Sài Gòn đã bị chọc thủng.

May thay, lúc bấy giờ, người tài xế của ông dân biểu chủ nhà, sau khi chở ông đi di tản, lại quay về nhà mình, và không quên ghé qua nhà ông dân biểu trao chìa khóa! Mẹ con cô Lan nhân dịp đó nhờ ông tài xế chở ra bến tàu. Ông chở ra thật.

Nhưng được chở ra bến tàu vẫn chưa có nghĩa là đi được. Khi mẹ con đến nơi, cổng bến tàu đã bị chặn lại. Hàng rào kẽm gai chặn không cho xe đi qua.

Read more of this post

Chuyện cô gái mang tên tàu chiến (kỳ 1)

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên. (Hình: Benjamin Vũ)

(Bài đăng báo Xuân Người Việt 2006)

Vũ Quí Hạo Nhiên

.

Ngày Tết, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một câu chuyện.

Có người bảo đây là câu chuyện của hai người thiếu nữ xinh đẹp, một thiếu nữ của 30 năm trước và một thiếu nữ của 30 năm sau. Cũng có người bảo đây là là chuyện của một bài báo. Lại có người bảo đây là câu chuyện của một chiến thuyền Mỹ và nhóm thủy thủ trên đó. Có người còn bảo đây là câu chuyện của một dân tộc, thậm chí, của hai dân tộc.

Nhưng với tôi, đây là một câu chuyện tình. Trong câu chuyện này, hai người thiếu nữ, các thủy thủ, và cả đoàn người Việt Nam di tản tránh cộng sản, đều là những nhân vật được ràng buộc bằng một mối dây thắt chặt cả nhân loại.

Mối dây đó, là tình người.

.

Phần 1
Cuộc di tản vĩ đại của người Việt Nam – Ba mươi năm tìm một cô gái

Sau 30 tháng 4 năm 1975, một chiến thuyền Mỹ hộ tống một đoàn tàu hải quân Việt Nam Cộng Hòa mang 20,000 người tỵ nạn từ khu vực đảo Côn Sơn đến Subic Bay.

Trên chiếc tàu ấy, USS Kirk FF1087, có một sản phụ lúc đến nơi đã hạ sinh một em bé, và người sản phụ đã dùng tên “Kirk” vào đặt cho em bé gái, dù Kirk là tên con trai.

Câu chuyện lãng mạn trên là câu chuyện có thật, và thủy thủ đoàn chiến tàu USS Kirk ra sức tìm lại em bé trên để mời gia đình em cùng họp ngày hội ngộ thủy thủ đoàn. “Nghe đâu tên là Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” ông Jim Bongaard, một cựu thủy thủ về hưu với cấp bậc trung sĩ, thuật lại.

.

Công tác di tản

Vào thời gian cuối tháng Tư 1975, hạm trưởng khu trục hạm USS Kirk FF1087 (chữ FF viết tắt “fast frigate”) là trung tá Paul H. Jacobs. Sau này ông Jacobs về hưu với cấp bậc đại tá. Ông kể lại tình trạng di tản hỗn loạn trong ngày đó:

“Chúng tôi thuộc Hạm đội 7, lúc thời gian cuối tháng Tư, khoảng ngày 25, chúng tôi thả neo ngoài cửa sông, cách Sài Gòn khoảng 5000 mét. Nhiệm vụ của chúng tôi là hỗ trợ hỏa lực cho Tòa Đại sứ Mỹ nếu cần. Lúc bấy giờ rất nhiều phi công Việt Nam lái trực thăng chở người di tản đậu trên tàu USS Kirk.” Nhưng người ta không chỉ bay ra thôi, có người còn muốn bay về. “Có người bay ra trên một trực thăng. Rồi khi thấy chiếc trực thăng sau đó tới thì lại muốn trở về. Tâm trạng người ta lúc đó cũng hoang mang lắm,” ông Jacobs nói.

Một chiếc trực thăng vỡ tung khi thả xuống biển. Có thể đây chính là chiếc trực thăng được đại úy Hugh Doyle kể lại. (Hình: trích Kỷ Yếu USS Kirk 1975)

Từng chiếc trực thăng đáp xuống USS Kirk. Mặc dầu đây là những trực thăng thiết kế để đáp xuống đất chứ không phải xuống một khu trục hạm, và mặc dù hầu như chắc chắn các phi công không hề được huấn luyện đáp xuống tàu, nhưng các trực thăng đều đáp an toàn. Thủy thủ trên tàu soát người trên trực thăng để chắc chắn không mang vũ khí hay hàng cấm, rồi dẫn vào bên trong. “Trên chiếc trực thăng đầu tiên là một ông Thiếu Tướng. Tôi nhường giường tôi cho ông ấy, ông ta mệt lử ngủ 3 ngày sau mới dậy,” hạm trưởng Jacobs nhớ lại.

Một trực thăng, hai trực thăng, ba trực thăng, boong tàu bắt đầu chật. Thủy thủ đoàn phải xô bớt trực thăng xuống biển để có chỗ đậu những chiếc kế. Chiếc trực thăng thứ 13, một chiếc CH-47, quá lớn, không đậu xuống khu trục hạm được. Phi công bay là là phía trên boong tàu để hành khách nhảy xuống những vòng tay đỡ ở dưới. Khi mọi người đã xuống, phi công bay ra xa một chút, nhảy ra ngoài và cho trực thăng rớt xuống biển. Một nhóm thủy thủ từ USS Kirk nhảy xuống, bơi ra, vớt ông lên.

Ông Hugh J. Doyle, lúc đó là đại úy kỹ sư trưởng, thâu một đoạn băng cassette gửi về cho vợ ở Mỹ, kể lại việc một phi công Việt Nam đã rất khéo léo cho máy bay mình rớt xuống biển mà cá nhân người phi công cũng an toàn – vì nếu không khéo, khi trực thăng rớt trúng mặt nước vỡ tung ra, sẽ có thể làm phi công bị thương:

“Viên phi công của chiếc Chinook cũng bảo phi công phụ hãy nhảy xuống tàu, và bây giờ em hãy hình dung như sau: người phi công chỉ còn một mình trên trực thăng – anh chàng Việt Nam nhỏ nhắn này điều khiển chiếc máy bay to lớn, với hai động cơ và hai chong chóng phía trước và phía sau, và từ từ bay ra cách sườn tàu khoảng một trăm yard. Rồi anh ta cho chiếc Chinook bay đứng tại chỗ rất gần mặt nước, và bắt đầu cố gắng cởi tất cả y phục, trừ chiếc quần lót – anh ta làm như vậy trong khi vẫn một mình điều khiển cho chiếc trực thăng bay đứng tại chỗ mà không có phi công phụ trợ giúp.

“Trong khi anh ta bay chiếc trực thăng to lớn này chỉ cách mặt nước vài feet, anh ta cởi tất cả y phục ra, liệng quần áo ra khỏi cửa sổ buồng lái, phía bên trái của máy bay, rồi anh ta leo ra ngoài cửa sổ. Không biết bằng cách nào anh ta còn giữ được hai cái cần điều khiển của trực thăng, anh ta điều khiển cho máy bay nghiêng sang phía bên phải, trong khi nó vẫn còn bay đứng tại chỗ, rồi anh ta nhảy sang phía bên trái, lao ra khỏi phòng lái và nhào xuống nước. Thật là kỳ diệu!

Read more of this post

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 308 other followers

%d bloggers like this: