Chủ nghĩa ‘libertarian’ ngày càng được ủng hộ

(Vẫn chưa có giờ viết blog. Tiếp tục lấy bài báo post lên. Bài này cũ, 22/2/12, nhưng info cũng hữu ích.)

Bác Sĩ Ron Paul, một dân biểu Cộng Hòa có chủ trương libertarian và từng tranh cử trong đảng Libertarian, hiện nay tranh cử tổng thống trong đảng Cộng Hòa và liên tục thu hút được xấp xỉ 10% người ủng hộ. (Hình: AP Photo/Charles Rex Arbogast)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Với cuộc tranh cử kiên trì của Dân Biểu Ron Paul trong vòng bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa, chủ thuyết chính trị “libertarianism” được nhiều người để ý, quan tâm và ủng hộ.

Chủ thuyết “libertarian,” tạm dịch là “tự do,” không phải là một chủ thuyết mới. Ngay tại quận Cam, tờ nhật báo Orange County Register xưa nay hay được xem là cơ quan truyền thông thiên về chủ thuyết này nhất.

Vậy chủ nghĩa tự do là gì? Và nó khác chủ nghĩa “liberal”/”liberalism” – cũng thường được dịch là tự do – như thế nào?

Hiểu ở cách đơn giản nhất, chủ nghĩa “libertarian” cho rằng mỗi cá nhân có quyền tự do và được phép làm bất cứ cái gì mà không có hại tới người khác. Vì coi trọng tự do cá nhân, nên chủ nghĩa libertarian không tín nhiệm sự can thiệp của nhà nước. Nhà báo nổi tiếng P.J. O’Rourke, một người ủng hộ chủ nghĩa tự do, từng nói:

“Trao tiền và quyền cho nhà nước cũng giống như đưa chai whiskey với chìa khóa xe cho mấy em trai tuổi teen.”

Ý của O’Rourke phản ảnh suy nghĩ của người libertarian cho rằng chính quyền là một nhóm người không tin tưởng được. Càng trao quyền nhiều bao nhiêu, càng hại bấy nhiêu.

Ðể cổ võ cho chủ thuyết của mình, lý thuyết gia libertarian David Nolan có đặt ra một sơ đồ, mang tên “sơ đồ Nolan”. Nolan sau này lập ra đảng Libertarian.

Sơ đồ Nolan. Người libertarian tự cho là tôn trọng tự do trong mọi chuyện, trong khi người bảo thủ chỉ tôn trọng tự do trong kinh tế và người cấp tiến chỉ tôn trọng tự do trong chuyện cá nhân hay xã hội. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Sơ đồ “tự do”

Sơ đồ do Nolan vẽ ra có 2 chiều, một chiều về tự do cá nhân, và một chiều về tự do kinh tế. Ở góc dưới của sơ đồ này, Nolan đặt chủ nghĩa dân túy (populism) hoặc chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism) – khi chính quyền áp đặt mọi thứ. Read more of this post

Vụ án Trayvon Martin: Vết thương chủng tộc chưa lành

(Hết giờ viết blog, tui lấy bài viết báo bốt lên.)

Trayvon Martin, trong tấm hình do gia đình cung cấp, không rõ ngày chụp. (Hình: AP Photo/Martin Family)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Án mạng giết một thanh niên da đen, mới đầu chỉ là một trong nhiều án mạng thương tâm khác, nay trở thành một biểu tượng được cả nước Mỹ quan tâm. Qua tới tuần thứ tư, một chỉ huy trưởng cảnh sát từ chức, và chính Tổng Thống Barack Obama cũng phải lên tiếng, với một câu nói đi thẳng vào lòng các bậc cha mẹ.

Người bị sát hại là Trayvon Martin, một học sinh trung học 17 tuổi, bị bắn chết ở Sanford, Florida, ngoại ô Orlando.

Khi bị giết, trên người em chỉ có một hộp kẹo Skittles và một chai nước trà đá. Em vừa mua kẹo và nước trong một tiệm 7-Eleven về.

Ðó là điều Tổng Thống Obama nói trong bài diễn văn. Nhắn với cha mẹ Trayvon, ông nói, “Nếu tôi có con trai, con tôi sẽ trông giống Trayvon.”

Lời nói của Obama chính là rất nhiều người lên tiếng trên truyền hình, trong các cuộc biểu tình, bãi khóa: Họ nghi rằng Trayvon Martin bị giết chỉ vì em gốc Phi Châu, da em đen, và điều này có nghĩa là hàng triệu thanh niên gốc Phi Châu khác đều có nguy cơ bị bắn chết bất cứ lúc nào, cho dù có là con trai tổng thống.

 

Vụ bắn người

 

Án mạng diễn ra ngày 26 tháng 2. Nhân chứng kể lại họ nghe tiếng xô xát, tiếng kêu cứu, rồi tiếng súng.

Báo cáo của cảnh sát nói khi tới nơi thì họ tìm thấy George Zimmerman, 28 tuổi, một người tình nguyện canh gác khu phố, cầm súng đứng bên cạnh xác Martin. Mũi ông chảy máu cam và sau gáy ông có vết xước.

Zimmerman nói ông bắn để tự vệ. Tin lời ông này, cảnh sát không bắt ông, không thử độ rượu hay ma túy, và cũng không gọi về bót để kiểm tra hồ sơ cá nhân ông này.

Tới ngày 9 tháng 3, vẫn chưa thấy động tĩnh gì trong vụ án, gia đình nhà Martin đòi cảnh sát công bố những cuộc gọi cấp cứu 9-1-1 liên quan tới vụ này.

Một tuần sau, cảnh sát cung cấp băng thu âm 9-1-1. Một người trong gia đình kể lại cho đài ABC, sau khi nghe cuốn băng, bà mẹ Trayvon gào khóc bỏ chạy ra khỏi phòng.

 

Cuộc gọi cấp cứu 9-1-1

 

Zimmerman là một tình nguyện viên của nhóm “neighborhood watch,” một tổ chức tự nguyện có mặt ở nhiều xóm. Người dân trong xóm tự lập “neighborhood watch” và tự nguyện canh chừng xem có gì cần thì giúp lẫn nhau hoặc có gì khả nghi thì gọi cảnh sát.

Băng thu âm 9-1-1 có nhiều cuộc gọi của cư dân báo động vụ bắn ở bên ngoài nhà họ, nhưng cuộc gọi của chính Zimmerman là cuốn băng được nghe nhiều nhất.

Read more of this post

Nghiên cứu mới: Người giàu hay gian

 

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WASHINGTON (NV) – Người giàu thường có khuynh hướng nói dối, gian lận, thậm chí phạm luật, nhiều hơn là người nghèo, theo nghiên cứu mới công bố trên tạp chí chuyên môn của Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia Mỹ.

Trong một loạt 7 thí nghiệm, các nhà khoa học khám phá ra người giàu thường gian dối nhiều hơn người nghèo ở nhiều mặt: Họ thường phạm luật khi lái xe, lấy đồ đạc của người khác, nói dối khi thương thuyết, gian lận để thắng giải thưởng, và hành xử thiếu đạo đức ở sở làm.

Kết quả này được đăng trên tạp chí chuyên môn Proceedings of the U.S. National Academy of Sciences. Bài viết mang tên “Higher social class predicts increased unethical behavior” dop Tiến Sĩ Paul K. Piff, đại học University of California, và cộng sự tại hai đại học California và University of Toronto, thực hiện.

Dữ kiện do Tiến Sĩ Piff thu thập được còn cho họ kết luận là lý do người giai cấp cao thì thiếu đạo đức là vì với họ, những điều được cho là “tham” thường được họ xem là bình thường.

Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho người ta chơi một trò chơi điện tử, ném xí ngầu. Các nhà nghiên cứu dặn người ta ghi lại điểm trên cục xí ngầu, càng nhiều điểm càng được thưởng nhiều. Những người này tưởng là không ai ghi lại kết quả của trò chơi điện tử.

Kết quả: Những người giai cấp cao – giàu hơn, được giáo dục nhiều hơn, gốc gác gia đình cao hơn – gian lận nhiều, ghi tăng số điểm xí ngầu, hơn là người giai cấp thấp.

Trong một thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu cho người ta đóng vai chủ nhân tuyển người. Họ được cho biết là việc làm này sẽ có thể bị bỏ sau 6 tháng và được khuyến khích là đừng cho ứng viên biết.

Kết quả, trong khi những người khác tìm cách né không nói về việc làm này có được lâu dài không, nhiều người giai cấp cao thì lại nói dối thẳng thừng.

Các nhà nghiên cứu cũng quan sát người lái xe trên đường phố ở San Francisco. Tại một ngã tư đường, họ quan sát xe cộ và phân loại xe sang và xe không sang. Kết quả: Xe sang thường hay lấn đường các xe khác và thường không chịu ngừng lại nhường cho người đi bộ.

Qua con số thu thập được, Tiến Sĩ Piff kết luận là người giai cấp cao thường có khuynh hướng ích kỷ hơn, họ nghĩ về cá nhân họ nhiều hơn, ít quan tâm tới người khác, và cũng kém hơn người khác về khả năng nhận biết phản ứng của người đối diện.

Tiến Sĩ Piff cho rằng lối hành xử này là một phần lý do giải thích cuộc khủng hoảng tài chánh, trong đó những người cực giàu, được giáo dục rất cao, lại hành xử thiếu đạo đức và cả phạm luật.

Siết mạng, chặn Facebook, cấm nói ‘Trường Sa’ : Wikileaks

Khách hàng vừa uống cà phê vừa dạo Internet, tại Sài Gòn năm 2004. Việt Nam tìm cách siết thông tin bằng cách ngăn chặn mạng Internet và cụ thể là Facebook, theo một công điện của tòa đại sứ Mỹ bị Wikileaks tiết lộ ra. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

 

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV)- Quyết tâm siết chặt Internet, nhà nước Việt Nam ra lệnh chặn Facebook và cấm không cho nói chuyện Trường Sa trên mạng, dù là đang chơi game – đó là những chi tiết trong công điện ký tên Ðại Sứ Michael Michalak và gởi ngày 25 tháng 11, 2009, bị tiết lộ trong kho công điện ngoại giao của Wikileaks.

Việc chặn Facebook không phải là chuyện bí mật. Ngay từ Mùa Hè năm 2009, đã có tin đồn Việt Nam ra lệnh chặn Facebook, và một văn bản – tới nay vẫn chưa được kiểm chứng – mang số 693/CV/KTNVI (P7), đề ngày 27 tháng 8, 2009, được lưu truyền trên mạng trong đó có danh sách các trang web cần chặn và có Facebook trong đó.

“Vào tháng 10, người dùng bắt đầu gặp khó khăn khi truy cập Facebook, trang mạng có trên 1.1 triệu người sử dụng tại Việt Nam. Lúc đầu, người ta tự giải thích là chính quyền Việt Nam đang thử nghiệm một loại kỹ thuật mới để chặn một số trang web và tình hình sẽ không kéo dài mãi,” bản công điện viết.

“Giả dụ này có vẻ đúng,” công điện viết tiếp, “khi mà vài ngày sau đó, Faceook lại tái xuất hiện như phép lạ, dù chỉ là trong vài giờ”.

Cũng vào tháng 10, báo Người Việt liên lạc với công ty Facebook để phối kiểm tin Facebook bị chặn tại Việt Nam. Giám đốc Thông tin Quốc tế và Chính sách Công của Facebook là bà Debbie Frost khi đó chưa quả quyết Facebook đang bị chặn. Tuy nhiên, bà cũng lên tiếng:

“Chúng tôi tin rằng mọi người ở khắp thế giới cần được dùng trang mạng này để truyền tin và chia sẻ thông tin với bạn bè, gia đình và đồng nghiệp, và thật là đáng xấu hổ, nếu người dân ở Việt Nam hoặc bất cứ nước nào khác không có quyền vào trang Facebook, là trang giúp người ta chia sẻ tin tức với người quan tâm.”

.

Chặn Facebook để kiềm chế thông tin

.

Tới lúc Ðại Sứ Michalak viết công điện này vào tháng 11, chuyện Facebook bị chặn đã rõ ràng. “Không còn thắc mắc gì nữa, rõ ràng là trang mạng này đang bị chặn bởi các công ty cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam, và chỉ thị cho các công ty này đồng loạt chặn trang mạng này rất có thể đến từ nhà cầm quyền trung ương.”

Thông tấn xã AP đưa tin Facebook bị chặn. Báo chí thế giới rầm rộ tin tức về vụ này. Thông tấn xã Ðức DPA trích lời viên chức của FPT và VNPT, hai công ty cung cấp dịch vụ Internet lớn của Việt Nam, xác nhận có lệnh của nhà nước bắt buộc chặn Facebook.

Bộ Trưởng Thông Tin Truyền Thông Lê Doãn Hợp phát biểu tại Quốc Hội, và lời phát biểu này được báo chí quốc tế loan đi khắp nơi, cho thấy ông xem mạng Internet như là một mối đe dọa: Ông gọi mạng này là nơi phát tán những thông tin sai lạc và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. (Ông Hợp cũng là tác giả của cụm từ “lề phải”.)

Tuy chú trọng vào Facebook vì là một công ty Mỹ, điều mà công điện của Ðại Sứ Michalak quan tâm hơn là ý đồ kiểm soát thông tin.

Read more of this post

Tàu ngầm Nga giúp Việt Nam ‘tước quyền kiểm soát của Trung Quốc’ – Wikileaks

Một chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga giống chiếc bán cho Việt Nam. Chiếc này được bán cho Iran. (Hình: defenselink.mil)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Việc Việt Nam chi 1.8 tỷ đô la Mỹ để mua 6 tàu ngầm hạng Kilo của Nga là nằm trong mục tiêu đối phó với mối đe dọa đến từ Bắc Kinh, theo một công điện ngoại giao của Ðại Sứ Quán Mỹ bị Wikileaks tiết lộ.

Sáu tàu ngầm hạng Kilo, cộng 12 máy bay Su-30 MK2 nằm trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội kéo dài từ 10 tới 20 năm, theo Phó Ðại Sứ Virginia Palmer viết trong công điện đề ngày 23 tháng 6, 2009.

Ngoài tàu ngầm, tin tức còn cho biết Việt Nam sẽ mua luôn cả thủy lôi và hỏa tiễn. “Nguồn tin trong hãng xuất cảng võ khí Rosoboronexport xác nhận là Nga và Việt Nam đã thương thuyết từ 1 năm nay mới kết thúc hợp đồng mua 6 tàu ngầm hạng Kilo trị giá $1.8 tỷ đô la, và sẽ giao hàng trong khoảng một năm.”

Sáu tàu ngầm mà Việt Nam mua được, chính là giựt từ hợp đồng của Venezuela. Bản công điện tiết lộ, đại lý vũ khí Rosoboronexport của nhà nước Nga đã hủy đơn đặt hàng của Venezuela để bán cho Việt Nam.

Lý do bên Nga đưa ra, là vì vào tháng 4, Tổng Thống Hugo Chavez của Venezuela đã gặp Tổng Thống Barack Obama rồi hứa sẽ cải thiện quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, bà Palmer cho rằng lý do này chỉ là cái cớ – bà dùng chữ “mỏng.” Bà gọi đó là “một lý do khá mỏng để công khai biện minh cho việc hủy một đơn đặt hàng vũ khí $1.5 tỷ, nhất là khi Venezuela là khách hàng Top 5 của Nga về vũ khí và quân cụ.”

Phó Ðại Sứ Palmer cho rằng lý do thật là “thị trường dầu thế giới sụp đổ, và nền kinh tế Venezuela thì lại lệ thuộc vào dầu hỏa để kiếm thu nhập.”

Trong khi đó, phía Việt Nam đã cố gắng mua tàu ngầm từ lâu. Bản công điện trích lời Giáo Sư Carl Thayer, một chuyên gia Úc về quân đội Việt Nam, “xác nhận là Hà Nội đã muốn mua tàu ngầm hạng Kilo từ năm 1991.” Bản công điện cho biết:

“Khi đó, Việt Nam đang thảo luận với Liên Xô nhưng rồi nước này tan rã trước khi hai bên kịp thỏa thuận.”

Không mua được tàu ngầm mới của Liên Xô, Việt Nam xoay qua hướng khác. “Gần đây hơn, giới chỉ huy Hải Quân Việt Nam định mua lại tàu ngầm hạng Kilo đã qua sử dụng, của Serbia.”

Ngoài ra, không mua được tàu ngầm lớn thì Việt Nam mua tàu ngầm nhỏ. “Có tin rằng Hà Nội mua được hai tàu ngầm nhỏ (mini-submarines) của Bắc Hàn năm 1977, có thể để dùng trong các vụ biệt kích, hoặc để phát triển và huấn luyện.”

Read more of this post

Jim Webb bí mật thăm Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa – Wikileaks

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb và vợ, bà Hồng Lê Webb, trong buổi họp báo tại Hà Nội năm 2007 khi ông tới Việt Nam lần đầu tiên trong tư cách thượng nghị sĩ. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Qua các công điện ngoại giao của Mỹ bị Wikileaks công bố, tới bây giờ người ta mới biết Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từng bí mật tới viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trong chuyến đi Việt Nam năm 2008.

Chuyến viếng thăm nghĩa trang này tiết lộ trong công điện đề ngày 9 tháng 1, 2009 đánh đi từ tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn.

Những chuyến đi của TNS Jim Webb, đảng Dân Chủ tiểu bang Virginia, về Việt Nam thường được báo chí quan tâm, vì ông không chỉ là một vị dân cử cao cấp, thành viên Ủy Ban Ngoại Giao và Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện, mà còn có những mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam.

Ông từng là trung úy thủy quân lục chiến phục vụ tại Việt Nam, đoạt nhiều huy chương cao quý trong chiến đấu kể cả huy chương Navy Cross. Ông đại diện một tiểu bang nhiều người Việt sinh sống; “khu Eden” nằm trong tiểu bang Virginia. Vợ ông là người Việt Nam, và ông nói rành tiếng Việt.

Chuyến đi đầu tiên của ông trong tư cách thượng nghị sĩ năm 2007 chẳng hạn, hay chuyến đi mới đây vào tháng 8 năm nay khi chuyện biển Ðông và quan hệ với Trung Quốc đang nóng bỏng, đều được báo chí đưa tin dồn dập.

Nhưng chuyến đi cuối năm 2008 đặc biệt thầm lặng. Báo chí ít đưa tin, và văn phòng ông cũng không đưa ra một thông cáo báo chí nào. Việc ông viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa được giữ kín từ đó tới khi công điện ngoại giao bị Wikileaks tung ra.

Trong bức công điện, Tổng Lãnh Sự Kenneth Fairfax cho biết, chính nhờ ông Webb được phép viếng nghĩa trang mà nhân viên lãnh sự được trở lại nơi này lần đầu tiên kể từ đầu năm 2007.

Thượng Nghị Sĩ Webb tới Sài Gòn ngày 29 tháng 12, và ngay hôm đó đi thăm nghĩa trang. Theo lời TLS Fairfax, chính quyền cho phép ông Web tới viếng nơi này vì “nguyện vọng cá nhân” của ông, và với điều kiện được xem là một chuyến đi “riêng tư,” không có nhân viên chính quyền nào đi theo. Thượng Nghị Sĩ Webb đồng thời cũng tới thăm một nghĩa trang liệt sĩ của quân đội cộng sản.

Nhại theo tựa cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens, TLS Fairfax đặt tựa cho đoạn viết về hai nghĩa trang này là “A Tale of Two Cemeteries” – “Chuyện của hai nghĩa trang” để so sánh giữa một bên là nghĩa trang liệt sĩ được bảo toàn đẹp đẽ (ông dùng chữ “immaculate” – sạch không một vết nhơ) với tình trạng của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Read more of this post

Phía sau vụ tự thiêu trước tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ: Wikileaks

Cổng tòa tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, nơi xảy ra vụ tự thiêu hụt của một tín đồ Hòa Hảo.

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Tiết lộ trong các công điện ngoại giao quanh vụ người dự tính tự thiêu trước cửa tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn cho thấy sự bất đồng giữa đoàn ngoại giao Mỹ và giới lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy tại Việt Nam.

Vụ tự thiêu xảy ra năm 2005, và nhiều báo chí hải ngoại đã đưa tin, theo tin của thông tấn xã AP, hoặc theo tin của Giáo Hội PGHH Thuần Túy Việt Nam.

Trong một công điện đánh đi trong ngày vụ tự thiêu hụt xảy ra, 19 tháng 8, 2005, Tổng lãnh sự Seth Winnick kể lại sự việc:

“Vào khoảng 9 giờ sáng địa phương, 19 tháng 8, một người đàn ông không rõ danh tánh, mặc đồ bình thường, ngã gục ở gần công vào Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại TP.HCM.

“Lính gác địa phương tại tòa Tổng Lãnh Sự chạy đến giúp đỡ, thì thấy quần áo người này tẩm đầy xăng hay một thứ nhiên liệu tương tự. Ông này cũng cầm một chai nhiên liệu nữa. Một tay ông cầm cái bật lửa, tay kia ông có một bức thư. Lính gác giựt bật lửa ra khỏi tay ông này để bảo đảm an toàn cho ông.”

Sau đó, theo bức công điện, công an thành phố đã bắt ông này và mang đi đâu không biết.

TLS Winnick cho rằng nhân vật này có liên quan tới Phật Giáo Hòa Hảo vì ngay sau đó ông nhận được điện thoại từ cụ Lê Quang Liêm, một lãnh tụ Hòa Hảo ở Sài Gòn. Cụ Liêm báo cho ông Winnick biết có “tin từ miền Tây” nói rằng sẽ có vụ tự thiêu ở trước tòa Tổng Lãnh Sự và hỏi thăm có gì xảy ra không.

Trong công điện gởi về, TLS Winnick báo với Washington rằng: “Trong tất cả những lần gặp gỡ với cả cụ Liêm lẫn ông (Trương Văn) Ðức, chúng tôi đều nhấn mạnh rằng tự thiêu là hình thức đấu tranh không chấp nhận được, bất kể nỗi oan tới thế nào.”

Trong một công điện theo sau đó trong cùng ngày, TLS Winnick báo về cho Washington là cả cụ Liêm lẫn ông Ðức liên tiếp gọi vào tòa tổng lãnh sự vào lúc 3 giờ chiều, hai cuộc gọi chỉ cách nhau vài phút.

Cả hai đều loan tin có tới 9 đạo hữu Hòa Hảo từ miền Tây đang lên Sài Gòn để lần lượt tự thiêu phản đối. Hai người hỏi “cộng đồng quốc tế” có định làm gì để giúp giảm “áp lực không chịu nổi” đối với Hòa Hảo.

Read more of this post

Việt Tân vào tù thăm bạn, xôn xao ngoại giao đoàn: Wikileaks

Ðảng viên Việt Tân Mai Hữu Bảo về lại California được đón tiếp trong một buổi lễ tổ chức tại hội trường đài Little Saigon Radio, sau khi cố tình vào tù cộng sản thăm bạn, khiến bị cộng sản giam 48 tiếng. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Năm 2008, ba đảng viên Việt Tân về nước vào Tổng Cục An Ninh để thăm bạn đang bị giam trong đó, rồi cả 3 bị công an giam lại. Chuyện này ngay lập tức làm xôn xao ít nhất hai đoàn ngoại giao ở Việt Nam và họ rất quan tâm tới vấn đề này, theo lời tường trình trong một công điện được Wikileaks tiết lộ.

Vụ này xảy ra tháng 4, 2008. Ba đảng viên Việt Tân là Mai Hữu Bảo từ Mỹ, Bác Sĩ Nguyễn Thị Xuân Trang từ Thụy Sĩ, và Nguyễn Tấn Anh từ Úc, hẹn nhau về Việt Nam để đi thăm nuôi các đảng viên Việt Tân đang bị giam từ tháng 11 năm 2007, mà chưa đưa ra tòa. Cả ba đều là công dân các nước này.

Theo lời kể lại sau này, ba người hẹn nhau ở Sài Gòn, rồi cùng vào nhà giam của Tổng Cục An Ninh, đường Nguyễn Văn Cừ quận 1, để thăm nhóm Việt Tân bị bắt. Họ mang thực phẩm và thuốc men vào thăm nuôi nhóm này.

Ba người vào trong đó buổi sáng ngày 3, rồi không thấy trở ra nữa.

Sáng ngày 4, một người bạn của Bảo là Tammy Trần ở Mỹ gọi về cho Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn, theo lời Ðại Sứ Michael Michalak kể lại trong công điện cùng ngày. Công điện này viết:

“Cô Trần nói ông Mai là một đảng viên Việt Tân đã tới đó để thăm các đảng viên Việt Tân khác, trong đó có ông Nguyễn Quốc Quân.”

Lúc đó, trong tù đang giam giữ 4 đảng viên Việt Tân trong đó có hai người quốc tịch nước ngoài, là Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân quốc tịch Mỹ, và ông Somsak Khunmi tức Nguyễn Quốc Hải quốc tịch Thái Lan.

Tuy nhiên, vào lúc đó, Tammy Trần nói “cô không biết ông (Mai Hữu Bảo) có tới được nhà giam hay không – lần cuối cùng cô nhận được email của anh là trước đó một ngày, trong đó anh nói anh ‘bận và sẽ gởi email tiếp.’” Cô Tammy Trần cũng nói Việt Tân biết và ủng hộ hành động của Mai Hữu Bảo.

Cùng ngày 4, viên tham tán thông tin-văn hóa tòa đại sứ tại Hà Nội được một nhà báo Mỹ gọi tới. Nhà báo này nói “ông được một đảng viên Việt Tân ở Mỹ cho biết có 4 đảng viên Việt Tân, trong đó có một công dân Mỹ, vào thăm Nguyễn Quốc Quân trong tù hôm trước nhưng không thấy ai trở ra,” Ðại Sứ Michalak viết trong công điện. Con số 4 người không chính xác nhưng là con số được ghi trong công điện.

Bà vợ Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân cũng nói với Tổng Lãnh Sự Mỹ là ngoài một công dân Mỹ, có thêm một công dân Úc, và một công dân Thụy Ðiển (thật ra là Thụy Sĩ) cùng đi theo vào thăm ông Quân.

Tới buổi chiều, bức công điện cho biết, viên tham tán chính trị tòa đại sứ Thụy Sĩ gọi cho tham tán chính trị tòa đại sứ Mỹ.

Bên Thụy Sĩ nói với bên Mỹ, có tin rằng 3 người ngoại quốc bị bắt: 1 công dân Mỹ, 1 công dân Thụy Sĩ, 1 công dân Úc, tất cả đều gốc Việt và đều là đảng viên Việt Tân, đã vào Việt Nam với mục đích đi thăm một đảng viên Việt Tân khác.

Ðại Sứ Michalak bèn gọi cho Thứ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh. Công điện cho biết Ðại Sứ Michalak nhấn mạnh hai điểm: Nhu cầu của đoàn ngoại giao Mỹ phải biết tin tức, và lập trường của Mỹ là chống đối những hành động đàn áp người hoạt động chính trị ôn hòa.

Read more of this post

Tướng Kỳ bị từng Nguyễn Tấn Dũng chặn đường về – Wikileaks

Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ (trái) cùng vợ ông, bà Lê Kim, trả lời báo chí trong lần đầu ông về lại Việt Nam, tháng 1 năm 2004. Công điện ngoại giao Hoa Kỳ cho biết trước đó khi phía Mỹ đề nghị Việt Nam cấp visa cho Tướng Kỳ, ông Nguyễn Tấn Dũng đã giận dữ bác bỏ và gọi ông Kỳ và các viên chức Việt Nam Cộng Hòa là “tội đồ”. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Lần đầu tiên phía Mỹ đề nghị Việt Nam cấp visa cho cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ về nước, ông Nguyễn Tấn Dũng giận dữ, đỏ mặt, mất bình tĩnh và gọi tất cả các cựu viên chức chính quyền miền Nam là “tội đồ” và sẽ “không bao giờ được chào đón” về Việt Nam, theo tiết lộ của các công điện ngoại giao được Wikileaks tiết lộ. Các công điện này cũng cho thấy, trong hai lần đầu về Việt Nam, Tướng Kỳ dành nhiều thời giờ vận động cho việc tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Chuyện ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng, nổi giận với Ðại Sứ Raymond Burghardt được tường thuật lại trong một công điện từ tòa đại sứ ở Hà Nội gởi về Bộ Ngoại Giao, ngày 11 tháng 3, 2003, và sau đó lại được nhắc lại trong một công điện khác, ngày 28 tháng 3, 2003.

Wikileaks không có toàn bộ các công điện ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng trong số những công điện mà Wikileaks có được, lần đầu tiên danh tánh Tướng Kỳ xuất hiện là trên bức công điện 11 tháng 3. Công điện đó tường thuật cuộc họp giữa Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng với Ðại Sứ Burghardt, một cuộc họp do ông Dũng yêu cầu, để tìm cách nâng cao quan hệ hai nước.

Trong buổi họp, ngoài nhiều đề tài khác, Phó Thủ Tướng Dũng phàn nàn về những nghị quyết cờ vàng ở California và Virginia. Ông nói ông hiểu rằng hiến pháp Mỹ không cho phép Bộ Ngoại Giao ngăn chặn những nghị quyết đó, nhưng yêu cầu Bộ Ngoại Giao Mỹ “tác động nhiều hơn”.

Ðại Sứ Burghardt cho rằng lý do cốt yếu là vì phía chính quyền Việt Nam chưa hết lòng kết nối với cộng đồng người Việt tại Mỹ. Ông đề nghị một số biện pháp, và nói thêm, “thậm chí mời cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ về thăm quê hương”.

Lúc đó, theo công điện này, “PTT Dũng phản ứng đầy xúc cảm, cho rằng các viên chức chế độ Sài Gòn cũ phải chịu trách nhiệm đã đưa 1 triệu lính Mỹ vào và gây chết chóc cho 3 triệu người Việt Nam; họ là ‘tội đồ’ và sẽ không bao giờ được chào đón trở về.”

Cái gọi là “phản ứng đầy xúc cảm” của ông Dũng được miêu tả kỹ hơn trong công điện ngày 28:

“Mặt ông bất thình lình rắn lại và ông phó thủ tướng gần như nổ tung vì giận dữ.”

Thấy vậy, Ðại Sứ Burghardt bàn rằng chắc phải “nhiều thế hệ nữa” mới có sự hàn gắn giữa hai bên, và ông Dũng “đồng ý”.

Read more of this post

Thiền Sư Nhất Hạnh giằng co với chính quyền: Wikileaks

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh làm lễ cầu siêu cho nạn nhân chiến tranh tại Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội, trong lần thứ nhì về lại Việt Nam năm 2007. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Trong hai chuyến đi Việt Nam năm 2005 và 2007, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, khi gặp riêng giới lãnh đạo Việt Nam, đã có những lời phê phán bộc trực và đề nghị thay đổi cho Việt Nam, nhưng mọi cố gắng này đều thất bại, và ông không gặt hái được kết quả gì trừ quyền được phát hành sách rộng rãi. Ðó là những gì được tiết lộ trong hai công điện của đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong vụ Wikileaks.

Năm 2005 là lần đầu tiên Thiền Sư Nhất Hạnh trở về Việt Nam sau gần 40 năm. Lần đó cũng không phải là lần đầu tiên ông muốn về. Năm 1999, ông từng đề nghị với nhà nước Việt Nam để về thuyết pháp, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ.

Chuyến về của ông cùng một đoàn Phật tử, học trò 200 người năm 2005, kéo dài hai tháng rưỡi, được báo chí trong nước cũng như giới truyền thông quốc tế loan tin rộng rãi. Trong một cuộc gặp mặt riêng với Ðại Sứ Mỹ Michael Marine, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ những điều không thấy trong những buổi sinh hoạt công khai, và những tiết lộ này được báo cáo từ Hà Nội về Bộ Ngoại Giao trong một công điện đề ngày 31 tháng 3, 2005.

.

Phật Giáo bị ‘chia rẽ’

.

Trong cuộc gặp gỡ này, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ là chuyến đi năm 1999 bị hủy bỏ do phía ông. Nhà nước Việt Nam muốn đặt áp đặt lịch trình và muốn ông về với tư cách khách mời của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), tức giáo hội được chính quyền công nhận, và ông không đồng ý.

Khác với năm 1999, trong chuyến đi năm 2005, ông đòi nhà nước Việt Nam hai điều kiện: Ông có thể đi bất cứ đâu trong nước Việt Nam, và sách của ông được tự do phát hành. Ðiều này ông đã thực hiện được; 10,000 bản của cả 12 bộ sách của ông đã bán hết trong chuyến đi này.

Thiền Sư Nhất Hạnh cũng cho rằng chuyến đi của ông là một sự thành công vì ông trực tiếp thuyết pháp được cho hơn 200,000 người và giúp gầy dựng lại lòng tin vào Phật pháp.

Thiền Sư Nhất Hạnh miêu tả tình hình Phật Giáo Việt Nam là “chia rẽ trầm trọng.” Mặc dù Phật tử được tự do thờ phượng, “sức khỏe chung của giáo hội rất tồi,” và ông cho rằng lý do là vì chính quyền can thiệp vào việc nội bộ của giáo hội.

Read more of this post

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 2,328 other followers