Tài liệu mật CIA về cuộc chiến Việt – Trung

Bích chương lồng hình ảnh

Bích chương lồng hình ảnh “chiến thắng chống Trung Quốc xâm lược” với “thằng Mỹ cao cao bước cúi đầu.” Ảnh Bill Herod.

Vũ Quí Hạo Nhiên

Bài này đăng lần đầu trên tuần báo Viet Tide, xuất bản tại Houston và Little Saigon, năm 2009, trong loạt bài dịch các hồ sơ mật CIA đã được công khai hóa.

Tài liệu dưới đây là một bài nghiên cứu (“Research Paper”) mang tựa đề “Tranh chấp biên giới Trung-Việt.” (“The Sino-Vietnamese Border Dispute”).

Tài liệu dài 20 trang này tiết lộ và phân tích nhiều xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1978 – những xung đột mà ngày nay chính quyền cộng sản tại Hà Nội đang tảng lờ như không có.

Cơ quan tác giả hồ sơ này là National Foreign Assessment Center (tạm dịch Trung tâm Quốc gia Đánh giá Ngoại bang). NFAC là tên gọi mới của Cục Tình báo (Directorate of Intelligence) sau 1977, là bộ phận trong CIA chuyên phân tích và tổng hợp thông tin lấy được từ các nguồn tình báo. Đến năm 1981, NFAC lại được đổi lên trở về với tên gọi lúc trước, là Directorate of Intelligence.

Hồ sơ được đóng dấu Tối Mật (“Top Secret”), đề ngày 5 tháng 3, 1979 – tức vài tuần sau khi Trung Quốc xua quân vượt biên giới Việt Nam trong ý định “dạy cho Việt Nam một bài học.” Hồ sơ này được bạch hóa vào tháng 6, 2002.

Hồ sơ này tuy đã được bạch hóa, nhưng vẫn còn nhiều phần bị xóa trắng chưa được công bố hoàn toàn. Trong bản dịch này, những phần còn bị xóa được ghi bằng dấu “#####”. Những lời trong dấu ngoặc vuông [ ... ] là chú thích thêm của dịch giả.

(Bản dịch hồ sơ CIA)

Tranh chấp biên giới Trung-Việt

Thông tin dùng trong báo cáo này được cập nhật đến ngày 5 tháng 3, 1979

.

Các đánh giá chính

Cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào phía bắc Việt Nam có khuynh hướng che lấp sự thật là tranh chấp biên giới Trung-Việt có động lực của riêng nó và đã là vấn đề quan trọng giữa hai nước này từ lâu nay, trước khi mâu thuẫn Việt Nam – Campuchea nổ tung thành chiến tranh công khai. Sự bất đồng ý kiến về một vài đoạn biên giới ngắn (cũng như về chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) được giữ trong những đường dây trao đổi kín sau khi chiến tranh chấm dứt tại Đông Dương. Nhưng rồi những cuộc thảo luận kín bị thất bại vào cuối năm 1977 và vấn đề này trở thành một phần trong một cuộc tranh chấp chính trị rộng lớn hơn. (#####)

Ở cả hai bên, những phản ứng theo cảm tính đối với những biến cố mới đã thay thế cho sự tính toán tỉnh táo về thiệt hại cho lợi ích quốc gia trong trường hợp mất bình tĩnh. Đụng độ tại biên giới trở thành yếu tố quyết định khiến những phản ứng thiếu thận trọng này càng leo thang hơn.###

Một vài xung đột nhỏ, không vũ trang (hầu hết là ẩu đả) dọc đường biên giới Trung-Việt trở thành đụng độ quân sự cấp bách sau hai biến cố quan trọng trong năm 1978:

* Những lời cáo buộc về người gốc Hoa bị ngược đãi và muốn từ Việt Nam thoát thân vào Trung Quốc. Vì vậy cuộc giao tranh vũ trang đầu tiên năm 1978 tại vùng biên giới đã diễn ra vì vụ người tỵ nạn muốn vượt biên vào Trung Quốc.

* Những lời cáo buộc về việc Việt Nam xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Cuộc giao tranh vũ trang lần thứ nhì và thứ ba năm 1978 diễn ra khi phía Trung Quốc phá hủy hàng rào, cọc đánh dấu, và bãi mình trên tuyến [phòng thủ] này.

Phía Trung Quốc giận dữ vì Hà Nội đã cả gan thay đổi status quo tại biên giới, và cho rằng nếu im lặng chấp nhận những thay đổi này thì sẽ trở thành tưởng thưởng cho Hà Nội và sẽ dẫn đến nhiều vi phạm khác tại biên giới.###

Read more of this post

Cha chung, mọi người khóc: Elinor Ostrom và bài toán lạm dụng tài nguyên

Giáo sư chính trị học Elinor Ostrom (1933-2012), Nobel Kinh tế 2009. (Hình: Indiana University)

Tiến sĩ Elinor Ostrom, người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đoạt giải Nobel Kinh tế, qua đời hôm 12 tháng 3, thọ 78 tuổi.

Bà được giải Nobel Kinh tế năm 2009, sau cả một đời nghiên cứu cách bảo vệ tài nguyên của chung sao cho không bị lạm dụng, không bị dùng quá trớn, bào mòn tới nỗi bị mất luôn.

Tuy chiếm giải Nobel kinh tế, nhưng bà Ostrom không phải là một nhà kinh tế học. Bà đậu cử nhân, cao học, và tiến sĩ đại học UCLA không phải trong ngành kinh tế, mà trong ngành chính trị học.

Hầu hết công trình nghiên cứu của bà đều được thực hiện trong thời gian bà dạy tại đại học Indiana University, cũng không phải trong khoa kinh tế, mà trong khoa chính trị.

Điều này thật ra không có gì lạ. Không lạ, vì kinh tế học không còn là một ngành riêng lẻ dành riêng cho những người muốn làm kinh tế nữa, mà kinh tế học đã lấn vào hầu hết các ngành khoa học xã hội. Phương pháp luận của kinh tế là một phương pháp luận căn bản hầu như bất kỳ một nhà khoa học xã hội nào cũng phải biết. Và khi một nhà chính trị học, như Tiến sĩ Ostrom, dùng phương pháp của kinh tế để giải quyết vấn đề tài nguyên dùng chung, thì công trình đó trở thành một công trình kinh tế học.

.

Bài toán quen thuộc

.

Vấn đề Tiến sĩ Ostrom nghiên cứu là một vấn đề khá quen thuộc với người Việt Nam. Tại sao phòng vệ sinh ký túc xá lại rất dơ? Tại sao đường xá Việt Nam xả đầy rác?

Tại sao di tích lịch sử cứ bị phá hỏng không ai chăm sóc? Tại sao ngành du lịch làm ăn chụp giựt không màng tới tiếng xấu cho đất nước? V.v. và v.v.

Read more of this post

Chủ nghĩa ‘libertarian’ ngày càng được ủng hộ

(Vẫn chưa có giờ viết blog. Tiếp tục lấy bài báo post lên. Bài này cũ, 22/2/12, nhưng info cũng hữu ích.)

Bác Sĩ Ron Paul, một dân biểu Cộng Hòa có chủ trương libertarian và từng tranh cử trong đảng Libertarian, hiện nay tranh cử tổng thống trong đảng Cộng Hòa và liên tục thu hút được xấp xỉ 10% người ủng hộ. (Hình: AP Photo/Charles Rex Arbogast)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Với cuộc tranh cử kiên trì của Dân Biểu Ron Paul trong vòng bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa, chủ thuyết chính trị “libertarianism” được nhiều người để ý, quan tâm và ủng hộ.

Chủ thuyết “libertarian,” tạm dịch là “tự do,” không phải là một chủ thuyết mới. Ngay tại quận Cam, tờ nhật báo Orange County Register xưa nay hay được xem là cơ quan truyền thông thiên về chủ thuyết này nhất.

Vậy chủ nghĩa tự do là gì? Và nó khác chủ nghĩa “liberal”/”liberalism” – cũng thường được dịch là tự do – như thế nào?

Hiểu ở cách đơn giản nhất, chủ nghĩa “libertarian” cho rằng mỗi cá nhân có quyền tự do và được phép làm bất cứ cái gì mà không có hại tới người khác. Vì coi trọng tự do cá nhân, nên chủ nghĩa libertarian không tín nhiệm sự can thiệp của nhà nước. Nhà báo nổi tiếng P.J. O’Rourke, một người ủng hộ chủ nghĩa tự do, từng nói:

“Trao tiền và quyền cho nhà nước cũng giống như đưa chai whiskey với chìa khóa xe cho mấy em trai tuổi teen.”

Ý của O’Rourke phản ảnh suy nghĩ của người libertarian cho rằng chính quyền là một nhóm người không tin tưởng được. Càng trao quyền nhiều bao nhiêu, càng hại bấy nhiêu.

Ðể cổ võ cho chủ thuyết của mình, lý thuyết gia libertarian David Nolan có đặt ra một sơ đồ, mang tên “sơ đồ Nolan”. Nolan sau này lập ra đảng Libertarian.

Sơ đồ Nolan. Người libertarian tự cho là tôn trọng tự do trong mọi chuyện, trong khi người bảo thủ chỉ tôn trọng tự do trong kinh tế và người cấp tiến chỉ tôn trọng tự do trong chuyện cá nhân hay xã hội. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Sơ đồ “tự do”

Sơ đồ do Nolan vẽ ra có 2 chiều, một chiều về tự do cá nhân, và một chiều về tự do kinh tế. Ở góc dưới của sơ đồ này, Nolan đặt chủ nghĩa dân túy (populism) hoặc chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism) – khi chính quyền áp đặt mọi thứ. Read more of this post

Vụ án Trayvon Martin: Vết thương chủng tộc chưa lành

(Hết giờ viết blog, tui lấy bài viết báo bốt lên.)

Trayvon Martin, trong tấm hình do gia đình cung cấp, không rõ ngày chụp. (Hình: AP Photo/Martin Family)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Án mạng giết một thanh niên da đen, mới đầu chỉ là một trong nhiều án mạng thương tâm khác, nay trở thành một biểu tượng được cả nước Mỹ quan tâm. Qua tới tuần thứ tư, một chỉ huy trưởng cảnh sát từ chức, và chính Tổng Thống Barack Obama cũng phải lên tiếng, với một câu nói đi thẳng vào lòng các bậc cha mẹ.

Người bị sát hại là Trayvon Martin, một học sinh trung học 17 tuổi, bị bắn chết ở Sanford, Florida, ngoại ô Orlando.

Khi bị giết, trên người em chỉ có một hộp kẹo Skittles và một chai nước trà đá. Em vừa mua kẹo và nước trong một tiệm 7-Eleven về.

Ðó là điều Tổng Thống Obama nói trong bài diễn văn. Nhắn với cha mẹ Trayvon, ông nói, “Nếu tôi có con trai, con tôi sẽ trông giống Trayvon.”

Lời nói của Obama chính là rất nhiều người lên tiếng trên truyền hình, trong các cuộc biểu tình, bãi khóa: Họ nghi rằng Trayvon Martin bị giết chỉ vì em gốc Phi Châu, da em đen, và điều này có nghĩa là hàng triệu thanh niên gốc Phi Châu khác đều có nguy cơ bị bắn chết bất cứ lúc nào, cho dù có là con trai tổng thống.

 

Vụ bắn người

 

Án mạng diễn ra ngày 26 tháng 2. Nhân chứng kể lại họ nghe tiếng xô xát, tiếng kêu cứu, rồi tiếng súng.

Báo cáo của cảnh sát nói khi tới nơi thì họ tìm thấy George Zimmerman, 28 tuổi, một người tình nguyện canh gác khu phố, cầm súng đứng bên cạnh xác Martin. Mũi ông chảy máu cam và sau gáy ông có vết xước.

Zimmerman nói ông bắn để tự vệ. Tin lời ông này, cảnh sát không bắt ông, không thử độ rượu hay ma túy, và cũng không gọi về bót để kiểm tra hồ sơ cá nhân ông này.

Tới ngày 9 tháng 3, vẫn chưa thấy động tĩnh gì trong vụ án, gia đình nhà Martin đòi cảnh sát công bố những cuộc gọi cấp cứu 9-1-1 liên quan tới vụ này.

Một tuần sau, cảnh sát cung cấp băng thu âm 9-1-1. Một người trong gia đình kể lại cho đài ABC, sau khi nghe cuốn băng, bà mẹ Trayvon gào khóc bỏ chạy ra khỏi phòng.

 

Cuộc gọi cấp cứu 9-1-1

 

Zimmerman là một tình nguyện viên của nhóm “neighborhood watch,” một tổ chức tự nguyện có mặt ở nhiều xóm. Người dân trong xóm tự lập “neighborhood watch” và tự nguyện canh chừng xem có gì cần thì giúp lẫn nhau hoặc có gì khả nghi thì gọi cảnh sát.

Băng thu âm 9-1-1 có nhiều cuộc gọi của cư dân báo động vụ bắn ở bên ngoài nhà họ, nhưng cuộc gọi của chính Zimmerman là cuốn băng được nghe nhiều nhất.

Read more of this post

Nghiên cứu mới: Người giàu hay gian

 

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WASHINGTON (NV) – Người giàu thường có khuynh hướng nói dối, gian lận, thậm chí phạm luật, nhiều hơn là người nghèo, theo nghiên cứu mới công bố trên tạp chí chuyên môn của Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia Mỹ.

Trong một loạt 7 thí nghiệm, các nhà khoa học khám phá ra người giàu thường gian dối nhiều hơn người nghèo ở nhiều mặt: Họ thường phạm luật khi lái xe, lấy đồ đạc của người khác, nói dối khi thương thuyết, gian lận để thắng giải thưởng, và hành xử thiếu đạo đức ở sở làm.

Kết quả này được đăng trên tạp chí chuyên môn Proceedings of the U.S. National Academy of Sciences. Bài viết mang tên “Higher social class predicts increased unethical behavior” dop Tiến Sĩ Paul K. Piff, đại học University of California, và cộng sự tại hai đại học California và University of Toronto, thực hiện.

Dữ kiện do Tiến Sĩ Piff thu thập được còn cho họ kết luận là lý do người giai cấp cao thì thiếu đạo đức là vì với họ, những điều được cho là “tham” thường được họ xem là bình thường.

Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho người ta chơi một trò chơi điện tử, ném xí ngầu. Các nhà nghiên cứu dặn người ta ghi lại điểm trên cục xí ngầu, càng nhiều điểm càng được thưởng nhiều. Những người này tưởng là không ai ghi lại kết quả của trò chơi điện tử.

Kết quả: Những người giai cấp cao – giàu hơn, được giáo dục nhiều hơn, gốc gác gia đình cao hơn – gian lận nhiều, ghi tăng số điểm xí ngầu, hơn là người giai cấp thấp.

Trong một thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu cho người ta đóng vai chủ nhân tuyển người. Họ được cho biết là việc làm này sẽ có thể bị bỏ sau 6 tháng và được khuyến khích là đừng cho ứng viên biết.

Kết quả, trong khi những người khác tìm cách né không nói về việc làm này có được lâu dài không, nhiều người giai cấp cao thì lại nói dối thẳng thừng.

Các nhà nghiên cứu cũng quan sát người lái xe trên đường phố ở San Francisco. Tại một ngã tư đường, họ quan sát xe cộ và phân loại xe sang và xe không sang. Kết quả: Xe sang thường hay lấn đường các xe khác và thường không chịu ngừng lại nhường cho người đi bộ.

Qua con số thu thập được, Tiến Sĩ Piff kết luận là người giai cấp cao thường có khuynh hướng ích kỷ hơn, họ nghĩ về cá nhân họ nhiều hơn, ít quan tâm tới người khác, và cũng kém hơn người khác về khả năng nhận biết phản ứng của người đối diện.

Tiến Sĩ Piff cho rằng lối hành xử này là một phần lý do giải thích cuộc khủng hoảng tài chánh, trong đó những người cực giàu, được giáo dục rất cao, lại hành xử thiếu đạo đức và cả phạm luật.

Siết mạng, chặn Facebook, cấm nói ‘Trường Sa’ : Wikileaks

Khách hàng vừa uống cà phê vừa dạo Internet, tại Sài Gòn năm 2004. Việt Nam tìm cách siết thông tin bằng cách ngăn chặn mạng Internet và cụ thể là Facebook, theo một công điện của tòa đại sứ Mỹ bị Wikileaks tiết lộ ra. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

 

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV)- Quyết tâm siết chặt Internet, nhà nước Việt Nam ra lệnh chặn Facebook và cấm không cho nói chuyện Trường Sa trên mạng, dù là đang chơi game – đó là những chi tiết trong công điện ký tên Ðại Sứ Michael Michalak và gởi ngày 25 tháng 11, 2009, bị tiết lộ trong kho công điện ngoại giao của Wikileaks.

Việc chặn Facebook không phải là chuyện bí mật. Ngay từ Mùa Hè năm 2009, đã có tin đồn Việt Nam ra lệnh chặn Facebook, và một văn bản – tới nay vẫn chưa được kiểm chứng – mang số 693/CV/KTNVI (P7), đề ngày 27 tháng 8, 2009, được lưu truyền trên mạng trong đó có danh sách các trang web cần chặn và có Facebook trong đó.

“Vào tháng 10, người dùng bắt đầu gặp khó khăn khi truy cập Facebook, trang mạng có trên 1.1 triệu người sử dụng tại Việt Nam. Lúc đầu, người ta tự giải thích là chính quyền Việt Nam đang thử nghiệm một loại kỹ thuật mới để chặn một số trang web và tình hình sẽ không kéo dài mãi,” bản công điện viết.

“Giả dụ này có vẻ đúng,” công điện viết tiếp, “khi mà vài ngày sau đó, Faceook lại tái xuất hiện như phép lạ, dù chỉ là trong vài giờ”.

Cũng vào tháng 10, báo Người Việt liên lạc với công ty Facebook để phối kiểm tin Facebook bị chặn tại Việt Nam. Giám đốc Thông tin Quốc tế và Chính sách Công của Facebook là bà Debbie Frost khi đó chưa quả quyết Facebook đang bị chặn. Tuy nhiên, bà cũng lên tiếng:

“Chúng tôi tin rằng mọi người ở khắp thế giới cần được dùng trang mạng này để truyền tin và chia sẻ thông tin với bạn bè, gia đình và đồng nghiệp, và thật là đáng xấu hổ, nếu người dân ở Việt Nam hoặc bất cứ nước nào khác không có quyền vào trang Facebook, là trang giúp người ta chia sẻ tin tức với người quan tâm.”

.

Chặn Facebook để kiềm chế thông tin

.

Tới lúc Ðại Sứ Michalak viết công điện này vào tháng 11, chuyện Facebook bị chặn đã rõ ràng. “Không còn thắc mắc gì nữa, rõ ràng là trang mạng này đang bị chặn bởi các công ty cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam, và chỉ thị cho các công ty này đồng loạt chặn trang mạng này rất có thể đến từ nhà cầm quyền trung ương.”

Thông tấn xã AP đưa tin Facebook bị chặn. Báo chí thế giới rầm rộ tin tức về vụ này. Thông tấn xã Ðức DPA trích lời viên chức của FPT và VNPT, hai công ty cung cấp dịch vụ Internet lớn của Việt Nam, xác nhận có lệnh của nhà nước bắt buộc chặn Facebook.

Bộ Trưởng Thông Tin Truyền Thông Lê Doãn Hợp phát biểu tại Quốc Hội, và lời phát biểu này được báo chí quốc tế loan đi khắp nơi, cho thấy ông xem mạng Internet như là một mối đe dọa: Ông gọi mạng này là nơi phát tán những thông tin sai lạc và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. (Ông Hợp cũng là tác giả của cụm từ “lề phải”.)

Tuy chú trọng vào Facebook vì là một công ty Mỹ, điều mà công điện của Ðại Sứ Michalak quan tâm hơn là ý đồ kiểm soát thông tin.

Read more of this post

Tàu ngầm Nga giúp Việt Nam ‘tước quyền kiểm soát của Trung Quốc’ – Wikileaks

Một chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga giống chiếc bán cho Việt Nam. Chiếc này được bán cho Iran. (Hình: defenselink.mil)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Việc Việt Nam chi 1.8 tỷ đô la Mỹ để mua 6 tàu ngầm hạng Kilo của Nga là nằm trong mục tiêu đối phó với mối đe dọa đến từ Bắc Kinh, theo một công điện ngoại giao của Ðại Sứ Quán Mỹ bị Wikileaks tiết lộ.

Sáu tàu ngầm hạng Kilo, cộng 12 máy bay Su-30 MK2 nằm trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội kéo dài từ 10 tới 20 năm, theo Phó Ðại Sứ Virginia Palmer viết trong công điện đề ngày 23 tháng 6, 2009.

Ngoài tàu ngầm, tin tức còn cho biết Việt Nam sẽ mua luôn cả thủy lôi và hỏa tiễn. “Nguồn tin trong hãng xuất cảng võ khí Rosoboronexport xác nhận là Nga và Việt Nam đã thương thuyết từ 1 năm nay mới kết thúc hợp đồng mua 6 tàu ngầm hạng Kilo trị giá $1.8 tỷ đô la, và sẽ giao hàng trong khoảng một năm.”

Sáu tàu ngầm mà Việt Nam mua được, chính là giựt từ hợp đồng của Venezuela. Bản công điện tiết lộ, đại lý vũ khí Rosoboronexport của nhà nước Nga đã hủy đơn đặt hàng của Venezuela để bán cho Việt Nam.

Lý do bên Nga đưa ra, là vì vào tháng 4, Tổng Thống Hugo Chavez của Venezuela đã gặp Tổng Thống Barack Obama rồi hứa sẽ cải thiện quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, bà Palmer cho rằng lý do này chỉ là cái cớ – bà dùng chữ “mỏng.” Bà gọi đó là “một lý do khá mỏng để công khai biện minh cho việc hủy một đơn đặt hàng vũ khí $1.5 tỷ, nhất là khi Venezuela là khách hàng Top 5 của Nga về vũ khí và quân cụ.”

Phó Ðại Sứ Palmer cho rằng lý do thật là “thị trường dầu thế giới sụp đổ, và nền kinh tế Venezuela thì lại lệ thuộc vào dầu hỏa để kiếm thu nhập.”

Trong khi đó, phía Việt Nam đã cố gắng mua tàu ngầm từ lâu. Bản công điện trích lời Giáo Sư Carl Thayer, một chuyên gia Úc về quân đội Việt Nam, “xác nhận là Hà Nội đã muốn mua tàu ngầm hạng Kilo từ năm 1991.” Bản công điện cho biết:

“Khi đó, Việt Nam đang thảo luận với Liên Xô nhưng rồi nước này tan rã trước khi hai bên kịp thỏa thuận.”

Không mua được tàu ngầm mới của Liên Xô, Việt Nam xoay qua hướng khác. “Gần đây hơn, giới chỉ huy Hải Quân Việt Nam định mua lại tàu ngầm hạng Kilo đã qua sử dụng, của Serbia.”

Ngoài ra, không mua được tàu ngầm lớn thì Việt Nam mua tàu ngầm nhỏ. “Có tin rằng Hà Nội mua được hai tàu ngầm nhỏ (mini-submarines) của Bắc Hàn năm 1977, có thể để dùng trong các vụ biệt kích, hoặc để phát triển và huấn luyện.”

Read more of this post

Jim Webb bí mật thăm Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa – Wikileaks

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb và vợ, bà Hồng Lê Webb, trong buổi họp báo tại Hà Nội năm 2007 khi ông tới Việt Nam lần đầu tiên trong tư cách thượng nghị sĩ. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Qua các công điện ngoại giao của Mỹ bị Wikileaks công bố, tới bây giờ người ta mới biết Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từng bí mật tới viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trong chuyến đi Việt Nam năm 2008.

Chuyến viếng thăm nghĩa trang này tiết lộ trong công điện đề ngày 9 tháng 1, 2009 đánh đi từ tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn.

Những chuyến đi của TNS Jim Webb, đảng Dân Chủ tiểu bang Virginia, về Việt Nam thường được báo chí quan tâm, vì ông không chỉ là một vị dân cử cao cấp, thành viên Ủy Ban Ngoại Giao và Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện, mà còn có những mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam.

Ông từng là trung úy thủy quân lục chiến phục vụ tại Việt Nam, đoạt nhiều huy chương cao quý trong chiến đấu kể cả huy chương Navy Cross. Ông đại diện một tiểu bang nhiều người Việt sinh sống; “khu Eden” nằm trong tiểu bang Virginia. Vợ ông là người Việt Nam, và ông nói rành tiếng Việt.

Chuyến đi đầu tiên của ông trong tư cách thượng nghị sĩ năm 2007 chẳng hạn, hay chuyến đi mới đây vào tháng 8 năm nay khi chuyện biển Ðông và quan hệ với Trung Quốc đang nóng bỏng, đều được báo chí đưa tin dồn dập.

Nhưng chuyến đi cuối năm 2008 đặc biệt thầm lặng. Báo chí ít đưa tin, và văn phòng ông cũng không đưa ra một thông cáo báo chí nào. Việc ông viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa được giữ kín từ đó tới khi công điện ngoại giao bị Wikileaks tung ra.

Trong bức công điện, Tổng Lãnh Sự Kenneth Fairfax cho biết, chính nhờ ông Webb được phép viếng nghĩa trang mà nhân viên lãnh sự được trở lại nơi này lần đầu tiên kể từ đầu năm 2007.

Thượng Nghị Sĩ Webb tới Sài Gòn ngày 29 tháng 12, và ngay hôm đó đi thăm nghĩa trang. Theo lời TLS Fairfax, chính quyền cho phép ông Web tới viếng nơi này vì “nguyện vọng cá nhân” của ông, và với điều kiện được xem là một chuyến đi “riêng tư,” không có nhân viên chính quyền nào đi theo. Thượng Nghị Sĩ Webb đồng thời cũng tới thăm một nghĩa trang liệt sĩ của quân đội cộng sản.

Nhại theo tựa cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens, TLS Fairfax đặt tựa cho đoạn viết về hai nghĩa trang này là “A Tale of Two Cemeteries” – “Chuyện của hai nghĩa trang” để so sánh giữa một bên là nghĩa trang liệt sĩ được bảo toàn đẹp đẽ (ông dùng chữ “immaculate” – sạch không một vết nhơ) với tình trạng của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Read more of this post

Phía sau vụ tự thiêu trước tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ: Wikileaks

Cổng tòa tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, nơi xảy ra vụ tự thiêu hụt của một tín đồ Hòa Hảo.

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Tiết lộ trong các công điện ngoại giao quanh vụ người dự tính tự thiêu trước cửa tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn cho thấy sự bất đồng giữa đoàn ngoại giao Mỹ và giới lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy tại Việt Nam.

Vụ tự thiêu xảy ra năm 2005, và nhiều báo chí hải ngoại đã đưa tin, theo tin của thông tấn xã AP, hoặc theo tin của Giáo Hội PGHH Thuần Túy Việt Nam.

Trong một công điện đánh đi trong ngày vụ tự thiêu hụt xảy ra, 19 tháng 8, 2005, Tổng lãnh sự Seth Winnick kể lại sự việc:

“Vào khoảng 9 giờ sáng địa phương, 19 tháng 8, một người đàn ông không rõ danh tánh, mặc đồ bình thường, ngã gục ở gần công vào Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại TP.HCM.

“Lính gác địa phương tại tòa Tổng Lãnh Sự chạy đến giúp đỡ, thì thấy quần áo người này tẩm đầy xăng hay một thứ nhiên liệu tương tự. Ông này cũng cầm một chai nhiên liệu nữa. Một tay ông cầm cái bật lửa, tay kia ông có một bức thư. Lính gác giựt bật lửa ra khỏi tay ông này để bảo đảm an toàn cho ông.”

Sau đó, theo bức công điện, công an thành phố đã bắt ông này và mang đi đâu không biết.

TLS Winnick cho rằng nhân vật này có liên quan tới Phật Giáo Hòa Hảo vì ngay sau đó ông nhận được điện thoại từ cụ Lê Quang Liêm, một lãnh tụ Hòa Hảo ở Sài Gòn. Cụ Liêm báo cho ông Winnick biết có “tin từ miền Tây” nói rằng sẽ có vụ tự thiêu ở trước tòa Tổng Lãnh Sự và hỏi thăm có gì xảy ra không.

Trong công điện gởi về, TLS Winnick báo với Washington rằng: “Trong tất cả những lần gặp gỡ với cả cụ Liêm lẫn ông (Trương Văn) Ðức, chúng tôi đều nhấn mạnh rằng tự thiêu là hình thức đấu tranh không chấp nhận được, bất kể nỗi oan tới thế nào.”

Trong một công điện theo sau đó trong cùng ngày, TLS Winnick báo về cho Washington là cả cụ Liêm lẫn ông Ðức liên tiếp gọi vào tòa tổng lãnh sự vào lúc 3 giờ chiều, hai cuộc gọi chỉ cách nhau vài phút.

Cả hai đều loan tin có tới 9 đạo hữu Hòa Hảo từ miền Tây đang lên Sài Gòn để lần lượt tự thiêu phản đối. Hai người hỏi “cộng đồng quốc tế” có định làm gì để giúp giảm “áp lực không chịu nổi” đối với Hòa Hảo.

Read more of this post

Việt Tân vào tù thăm bạn, xôn xao ngoại giao đoàn: Wikileaks

Ðảng viên Việt Tân Mai Hữu Bảo về lại California được đón tiếp trong một buổi lễ tổ chức tại hội trường đài Little Saigon Radio, sau khi cố tình vào tù cộng sản thăm bạn, khiến bị cộng sản giam 48 tiếng. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Năm 2008, ba đảng viên Việt Tân về nước vào Tổng Cục An Ninh để thăm bạn đang bị giam trong đó, rồi cả 3 bị công an giam lại. Chuyện này ngay lập tức làm xôn xao ít nhất hai đoàn ngoại giao ở Việt Nam và họ rất quan tâm tới vấn đề này, theo lời tường trình trong một công điện được Wikileaks tiết lộ.

Vụ này xảy ra tháng 4, 2008. Ba đảng viên Việt Tân là Mai Hữu Bảo từ Mỹ, Bác Sĩ Nguyễn Thị Xuân Trang từ Thụy Sĩ, và Nguyễn Tấn Anh từ Úc, hẹn nhau về Việt Nam để đi thăm nuôi các đảng viên Việt Tân đang bị giam từ tháng 11 năm 2007, mà chưa đưa ra tòa. Cả ba đều là công dân các nước này.

Theo lời kể lại sau này, ba người hẹn nhau ở Sài Gòn, rồi cùng vào nhà giam của Tổng Cục An Ninh, đường Nguyễn Văn Cừ quận 1, để thăm nhóm Việt Tân bị bắt. Họ mang thực phẩm và thuốc men vào thăm nuôi nhóm này.

Ba người vào trong đó buổi sáng ngày 3, rồi không thấy trở ra nữa.

Sáng ngày 4, một người bạn của Bảo là Tammy Trần ở Mỹ gọi về cho Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn, theo lời Ðại Sứ Michael Michalak kể lại trong công điện cùng ngày. Công điện này viết:

“Cô Trần nói ông Mai là một đảng viên Việt Tân đã tới đó để thăm các đảng viên Việt Tân khác, trong đó có ông Nguyễn Quốc Quân.”

Lúc đó, trong tù đang giam giữ 4 đảng viên Việt Tân trong đó có hai người quốc tịch nước ngoài, là Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân quốc tịch Mỹ, và ông Somsak Khunmi tức Nguyễn Quốc Hải quốc tịch Thái Lan.

Tuy nhiên, vào lúc đó, Tammy Trần nói “cô không biết ông (Mai Hữu Bảo) có tới được nhà giam hay không – lần cuối cùng cô nhận được email của anh là trước đó một ngày, trong đó anh nói anh ‘bận và sẽ gởi email tiếp.’” Cô Tammy Trần cũng nói Việt Tân biết và ủng hộ hành động của Mai Hữu Bảo.

Cùng ngày 4, viên tham tán thông tin-văn hóa tòa đại sứ tại Hà Nội được một nhà báo Mỹ gọi tới. Nhà báo này nói “ông được một đảng viên Việt Tân ở Mỹ cho biết có 4 đảng viên Việt Tân, trong đó có một công dân Mỹ, vào thăm Nguyễn Quốc Quân trong tù hôm trước nhưng không thấy ai trở ra,” Ðại Sứ Michalak viết trong công điện. Con số 4 người không chính xác nhưng là con số được ghi trong công điện.

Bà vợ Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân cũng nói với Tổng Lãnh Sự Mỹ là ngoài một công dân Mỹ, có thêm một công dân Úc, và một công dân Thụy Ðiển (thật ra là Thụy Sĩ) cùng đi theo vào thăm ông Quân.

Tới buổi chiều, bức công điện cho biết, viên tham tán chính trị tòa đại sứ Thụy Sĩ gọi cho tham tán chính trị tòa đại sứ Mỹ.

Bên Thụy Sĩ nói với bên Mỹ, có tin rằng 3 người ngoại quốc bị bắt: 1 công dân Mỹ, 1 công dân Thụy Sĩ, 1 công dân Úc, tất cả đều gốc Việt và đều là đảng viên Việt Tân, đã vào Việt Nam với mục đích đi thăm một đảng viên Việt Tân khác.

Ðại Sứ Michalak bèn gọi cho Thứ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh. Công điện cho biết Ðại Sứ Michalak nhấn mạnh hai điểm: Nhu cầu của đoàn ngoại giao Mỹ phải biết tin tức, và lập trường của Mỹ là chống đối những hành động đàn áp người hoạt động chính trị ôn hòa.

Read more of this post

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 308 other followers

%d bloggers like this: